Vết thương là sự cắt đứt hay dập rách da và tổ chức dưới da hoặc các tổ chức khác của cơ thể.
Vết thương có thể là vết thương kín hoặc vết thương hở.
Vết thương kín (vết thương bên trong) là loại vết thương để cho máu thoát ra ngoài hệ thống tuần hoàn nhưng không chảy ra khỏi cơ thể. Loại này bao gồm: bầm tím, tụ máu dưới da hoặc có thể không có dấu tích ở bên ngoài.
Vết thương hở (vết thương bên ngoài) là loại vết thương để cho máu chảy ra khỏi cơ thể. Loại này bao gồm: các vết trích rạch, vết thương đâm xuyên hoặc thậm chí là vết trượt sây sát trên da.
Trên thực tế có nhiều vết thương vừa là vết thương kín vừa là vết thương hở.
Mục đích chính của việc cấp cứu và chǎm sóc cấp cứu một vết thương là:
- Cầm máu hoặc khống chế sự chảy máu
- Phòng hoặc điều trị sốc
- Duy trì các chức nǎng sinh tồn (giúp nạn nhân thở và lưu thông tuần hoàn)
- Tránh các biến chứng (đặc biệt là giảm nguy cơ nhiễm khuẩn)
1. SƠ CứU Và CHǍM SóC NHữNG VếT THU'ƠNG PHầN MềM
Nếu vết thương chảy nhiều máu phải tiến hành xứ trí cầm máu ngay (xem phần cấp cứu chảy máu ngoài)
1.1 Vết thương nhỏ:
1.1.1. Đối với vết thương bể mặt nhỏ
Vết thương bề mặt nhỏ là vết thương chỉ làm tổn thương những lớp bề mặt của da nên chỉ cần rửa loại vết thương này bằng nước chín hoặc nước máy nếu biết chắc chắn rằng nước máy này đảm bảo chất lượng vệ sinh.
Nếu vết thương quá bẩn phải rửa bằng nước xà phòng.
- Khi rửa vết thương phải:
+ Rửa tay kỹ trước khi bắt đầu
+ Nếu phải dùng dụng cụ như cái kẹp, cái nhíp để gắp những hạt sạn, sỏi... ra khỏi vết thương thì phải đun sôi dụng cụ ít nhất là 5 phút.
+ Sau khi rửa vết thương, nếu có điều kiện thì dùng dung dịch sát khuẩn để sát khuẩn xung quanh vết thương rồi dùng gạc vô khuẩn đặt lên trên vết thương, sau đó dùng bǎng dính hoặc bǎng cuộn bǎng lại. Nếu không có điều kiện thì gấp một miếng vải càng sạch càng tốt để đặt lên trên vết thương (Lưu ý để mắặt có mép gấp ra ngoài) rồi cũng dùng bǎng đính hoặc bǎng cuộn bǎng lại.
+ Nếu vết thương ởtay hoặc chân thì luôn nâng cao vết thương bằng dây đeo hoặc gối kê.
Hình 174. Bǎng vết thương nhỏ bằng bǎng dính.
Hình 1 75. Bǎng bết thương nhỏ bằng bǎng cuộn.
1.1.2. Đối với vết thương bề mặt rộng và sâu hơn.
Để vết thương liền nhanh hơn thì có thể đóng kín hoặc khâu vết thương lại. Nhưng chỉ đóng kín miệng một vết thương bề mặt sâu và rộng trong những điều kiện sau đây:
- Vết thương xảy ra chưa quá 12 giờ.
- Đảm bảo chắc chắn rằng vết thương không còn đất cát hoặc dị vật ẩn náu trong đó.
- Không có khả nǎng tìm được cán bộ y tế chuyên khoa hoặc chuyên môn ca hơn và cũng không thể chuyển nạn nhântới bệnh viện được.
Các phương pháp đóng kín miệng vết thương:
Phương pháp dùng bǎng dính: phương pháp này áp dụng cho những vết thương mà mép vết thương gần sát nhau.
Khi dùng bǎng dính để đóng kín vết thương nên cắt bǎng dính và dán bǎng dính như hình vẽ (cắt bǎng dính thành hình con bướm).
1.2. Vết thương lớn.
Đối với vết thương lớn sau khi xử trí cầm máu có thể rửa xung quanh vết thương bằng dung dịch sát khuẩn hoặc bằng nước chín.
Chỉ lấy dị vật hoặc bụi bẩn ra khỏi vết thương khi có thể lấy ra dễ dàng. Không được thǎm dò vết thương.
Sau đó bǎng bó vết thương rồi chuyển ngay nạn nhân tới cơ sở điều trị càng sớm càng tốt.
Trong khi chờ đợi và trên đường vận chuyển phải theo dõi sát nạn nhân. Giữ nạn nhân ở tư thế đúng, phòng chống và xử trí ngay nếu sốc xảy ra.
Chú ý: nếu có thể nên cố định vết thương vào phần không bị tổn thương của cơ thể và nâng cao vết thương, ví dụ: treo tay bị thương vào ngực, cố định chân bị tổn thương vào chân lành...
2. SƠ CứU Và cHǍM SóC CấP CứU VếT THƯƠNG NặNG.
Một vết thương sâu ởthành bụng là rất nguy hiểm không phải chỉ vì sự chảy máu ngoài mà còn vì những cơ quan bên trong cơ thể bị thủng, rách hoặc gây chảy máu trong và nhiễm khuẩn. Một phần của ruột có thể bị lòi ra khỏi thành bụng.
2.1. Dấu hiệu và triệu chứng.
- Đau khấp ổbụng
- Chảy máu từ vết thương ở vùng bụng
- Có thể nhìn thấy một phần của ruột hoặc một phần ruột đang lòi ra khỏi vết thương
- Nạn nhân có thể bị nôn
- Cóthể có dấu hiệu và triệu chứng của sốc.
2.2. Xử trí cấp cứu.
2.2.1. Mục đích:
Hạn chế nhiễm khuẩn và khống chế chảy máu, trong khi xử trí tránh để ruột bị lòi ra ngoài: Thu xếp chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện.
2.2.2. Hành động
a) Trường hợp ruột chưa bị lòi ra ngoài
- Khống chế sự chảy máu bằng cách ép thận trọng các mép vết thương với nhau.
- Đặt nạn nhân ở tư thế nửa nằm nửa ngồi chống 2 chân để tránh hở vết thương và giảm áp lực lên vùng bị thương. Dùng gối đệm hoặc quần áo gấp lại để đỡ vai, đầu và dưới khoeo chân.
- Đặt một miếng gạc trùm lên vết thương rồi dùng bǎng cuộn hoặc bǎng dính bǎng vết thương lại.
- Nếu nạn nhân bất tỉnh nhưng vẫn thở bình thường thì đặt nạn nhân ở tư thế hồi phục có gối hoặc đệm đỡ vùng bụng.
- Nếu nạn nhân ngừng thở ngừng tim thì tiến hành hồi sức hô hấp tuần hoàn ngay.
- Phòng chống và xử trí sốc (xem phần cấp cứu và chǎm sóc sốc).
* Chú ý: Không cho nạn nhân ǎn uống bất cứ một thứ gì.
- Kiểm tra tần số hô hấp và mạch 10 phút/lần. Phát hiện kịp thời dấu hiệu chảy máu trong.
- Nếu nạn nhân ho hoặc nôn thì dùng tay áp nhẹ lên vùng vết thủng để tránh ruột bị lòi ra ngoài.
- Chuyển nạn nhân tới bệnh viện ngay. Phải coi đây là một cấp cứu ưu tiên. Trong quá trình vận chuyển phải tiếp tục theo dõi sát và xử trí những diễn biến xảy ra.
b) Trong trường hợp một phần ruột bị lòi ra ngoài
- Khống chế sự chảy máu nhưng tránh dùng áp lực ép trực tiếp mạnh quá.
Không chạm vào vết thương, không được đẩy ruột vào trong.
- Đặt một miếng gạc nhỏ hoặc vải tẩm nước muối hoặc nước muối ǎn tự pha trùm lên vết thương rồi bǎng lỏng lại. Phải thường xuyên làm ẩm vết thương bằng dung dịch này. Cách pha dung dịch nước muối: cho 1 thìa cà phê muối ǎn vào 1 lít nước chín. Hoặc có thể dùng vành khǎn hay một cái bát đã luộc để nguội để úp lên vùng bị thương rồi dùng bǎng cuộn bǎng lại.
- Nếu nạn nhân ho hoặc nôn thì cũng dùng tay áp lên vết thương để tránh ruột bị lòi thêm ra ngoài.
- Đặt nạn nhân nằm và tiến hành chǎm sóc cấp cứu như trường hợp ruột không bị lòi ra ngoài.
3. SƠ CứU Và CHǍm SóC CấP CứU CáC VếT THUƠNG NGựC.
Vết thương ngực có nhiều hình thức khác nhau từ những vết thương do dao đâm tới những vết thương do tai nạn bởi những máy móc công nghiệp nặng hoặc do bị bánh xe đè qua trong tai nạn giao thông.
- Vết thương đâm xuyên
- Vết thương giập lồng ngực
- Vết thương có mảng sườn di động.
3.1. Sơ cứu vết thương đâm xuyên.
Vết thương đâm xuyên thường do dao đâm, hoặc những vật cứng nhọn đâm vào hoặc do đạn bắn hoặc do xương sườn bị ép ra phía ngoài da để cho không khí tràn vào khoang ngực. Những vết thương này có thể trở nên phức tạp và phát triển thành vết thương ngực hở.
Trong vết thương này, phổi bên bị thương bị xẹp ngay cả khi phổi đó không bị thủng và không còn khả nǎng hít khí vào... Hơn nữa khi xương sườn nâng lên lúc bệnh nhân thở vào làm cho không khí bên ngoài bị hút vào khoang lồng ngực qua vết thương sẽ chèn ép bên phổi lành dẫn đến tình trạng hô hấp không có hiệu quả và ngạt có thể xảy ra.
3.1.1. Dấu hiệu và triệu chứng
- Đau trong ngực
- Khó thở, thở nông vì có không khí trong lồng ngực
- Tím tái môi, đầu chi và da biểu thị sự bắt đầu của ngạt
- Ho ra máu đỏ tươi có lẫn bọt nếu phổi bị tổn thương
- Cóthể nghe thấy tiếng thở "phì phò" ởmiệng vết thương khi nạn nhân thở.
- Cóbọt màu hồng ởmiệng vết thủng khi thở ra.
- Dấu hiệu và triệu chứng của sốc.
3.1.2. Xử trí cấp cứu: trường hợp không có dị tật
a) Mục đích: Làm dễ thở bằng cách làm kín ngay vết thương, thu xếp chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện.
b) Hành động:
- Ngay lập tức dùng bàn tay bịt kín miệng vết thương
- Đặt nạn nhân ởtư thế nửa nằm ngửa ngồi nghiêng về phía bên phổi bị thương để bên phổi lành hoạt động được thuận lợi. Dùng gối hoặc đệm hay quần áo gấp lại để ởlưng, và đầu.
- Nhẹ nhàng dặt một miếng gạc vô khuẩn hoặc vải sạch lên trên miệng vết thương.
- Phủ lên trên miếng gạc hoặc miếng vải một miếng giấy bóng.
- Dùng bǎng dính dán các mép của miếng giấy bóng vào da.
- Dùng bǎng cuộn bǎng ép lại
- Nếu vết thương có lỗ vào và lỗ ra thì phải kiểm tra và có thể phải bǎngkín cả 2 vết thương.
- Nếu nạn nhân vẫn thở bình thường nhưng bị bất tỉnh thì đặt nạn nhân ởtư thế hồi phục, bên phổi lành ởphía trên.
- Phòng chống và xử trí xốc (xem bài cấp cứu sốc).
- Kiểm ra tần số mạch nhịp thở và mức độ tỉnh táo 10 phút/lần. Phát hiện kịp thời dấu hiệu chảy máu trong.
Hình 176. Bǎng kín vết thương ngực hở.
- Chuyển nạn nhân tới ngay bệnh viện. Phải coi đây là một cấp cứu ưu tiên. Trong khi vận chuyển vẫn phải theo dõi sát nạn nhân, giữ nạn nhân ở tư thế đúng và xử trí những diễn biến xảy ra.
Trường hợp vẫn còn dị vật
- Không được rút dị vật ra.
- Bịt kín vết thương bằng cách ép mép vết thương sát với dị vật.
- Đặt gạc hoặc miếng vải xung quanh dị vật.
- Đặt một vành khǎn lên trên vết thương sau đó bǎng kín lại như vết thương không có dị vật.
- Chǎm sóc và theo dõi tiếp theo như đã nêu ở trên.
3.2. Sơ cứu vết thương giập lồng ngực.
- Bǎng bó vết thương bề mặt nếu có.
- Bǎng ép tay bên bị thương hoặc cả 2 tay nếu cả hai lồng ngực đều bị tổn thương vào ngực nạn nhân (khi bǎng để nguyên cả áo). Bǎng ép chặt vừa đủ (thắt nút khi thở ra). Nhưng nếu các xương sườn gãy thì không được bǎng ép chặt quá vì có thể làm đầu xương sườn chọc vào phổi.
- Đặt nạn nhân nằm tư thế như trường hợp bị vết thương đâm xuyên.
- Phòng chống và xử trí sốc nếu xảy ra (xem bài cấp cứu sốc).
- Chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện.
Hình 1 77. Buộc tay vào ngực khi bị giập lồng ngực.
3.3. Sơ cứu vết thương có mảng sườn di dộng.
Vấn đề chính của vết thương ngực có gãy nhiều xương sườn là làm nạn nhân rất khó thở và đau. Hơn nữa đầu của các xương sườn gãy có thể làm thủng hoặc rách màng phổi và phổi và gây nên tràn khí dưới da và tràn khí màng phổi gây chèn ép phổi và nếu các xương sườn gãy liền nhau và gãy thành nhiều mảnh thì sẽ tạo thành mảng sườn di động và gây nên "hô hấp đảo ngược". Mảng sườn này di động ngược chiều với phần còn lại của thành ngực làm cho hô hấp không hữu hiệu và gây nên xẹp bên phổi tổn thương.
Mảng sườn di động vào trong khi thở vào và ra ngoài khi thở ra.
Phần còn lại của thành ngực di động ra ngoài khi thở vào và vào trong khi thở ra.
Hình 178. Vết thương có mảng sườn di động gây nhịp thở đảo ngược
Khi gặp một nạn nhân bị vết thương thành ngực có mảng sườn di động ta phải nhanh chóng cố định thành ngực nạn nhân.
Cách cố định:
- áp một vật chắc như một tấm vải gấp lại (hoặc dùng một gói nhỏ) lên trên phần bị tổn thương của thành ngực rồi dùng bǎng cuộn bǎng chặt lại (H. 179).
- Hoặc buộc tay nạn nhân vào ngực.
- Hoặc dùng bǎng dính to bản giữ mảng sườn di động vào phần còn lại của thành ngực.
Với sự cố định này sẽ giúp nạn nhân tự thở dễ dàng, và hô hấp sẽ hữu hiệu hơn.
Sau khi cố định đặt nạn nhân nằm tư thế nào mà nạn nhân cảm thấy thoải mái nhất. Thường là đặt nạn nhân nằm tư thế nửa nằm nửa ngồi, nghiêng về bên bị tổn thương dùng gối hoặc đệm để ởđầu và lưng.
Đề phòng và xử trí sốc và nhanh chóng chuyển nạn nhân tới bệnh viện.
Hình 179. Cố định thành ngực bằng một gối mỏng và bǎng cuộn
Trong khi chờ đợi và trên đường vận chuyển phải theo dõi sát nạn nhân, xử trí và chǎm sóc kịp thời những diễn biến xảy ra.
4. SƠ Cứu VếT THưƠNG ở ĐầU.
Chấn thương ởđầu là chấn thương thường gặp do các nguyên nhân:
Tai nạn lao động,giao thông, sinh hoạt hoặc do hỏa khí gây tổn thương rất phức tạp, đa dạng. Trong bài này chỉ đề cập vấn đề sơ cứu vết thương rách da đầu và vết thương vỡ sọ.
4.1. Dấu hiệu và triệu chứng
- Rách da đầu gây chảy nhiều máu.
- Có thể thấy não phòi ra ngoài.
- Nạn nhân tỉnh táo hoặc nửa tỉnhnửa mê hoặc hôn mê.
- Cóthể có rối loạn hô hấp, khó thở, xuất tiết nhiều đờm dãi...
4.2. Xử trí cấp cứu.
4.2.1. Trường hợp rách da đầu gây chảy nhiều máu
- ép chặt 2 mép vết thương lại với nhau để cầm máu sơ bộ.
- Cắt tóc xung quanh vết thương
- Đặt gạc hoặc bông vô khuẩn lên trên vết thương rồi dùng bǎng cuộn bǎng ép lại. Nếu có điều kiện thì dùng kẹp agraf để bấm 2 mép vết thương lại với nhau sau đó bǎng lại.
- Chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế để xử trí tiếp..
4.2.2. Trường hợp vỡ xương sọ có não phòi ra ngoài
- Không được bôi lên não bất kỳ thứ thuốc gì
- Phủ lên phần não phòi ra một miếng gạc vô khuẩn.
- Nếu có điều kiện thì đặt một vành khǎn xung quanh tổ chức não phòi ra rồi dùng bǎng cuộn bǎng lại.
- Nếu không dùng vành khǎn thì chỉ được bǎng lỏng để tránh gây chèn ép não.
Chú ý:
- Nếu nạn nhân không tỉnh táo, lơ mơ hoặc mê man thì cần chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện.
- Nếu nạn nhân có xuất tiết đờm dãi thì phải làm sạch đờm dãi, làm thông đường hô hấp.
- Đặt nạn nhân nầm tư thế thoải mái an toàn. Nếu tình trạng nạn nhân cho phép thì nên đặt nạn nhân ởtư thế đầu cao, đầu nghiêng về bên lành.
- Theo dõi sát tình trạng nạn nhân 10 phút/1ần.
(theo Viện Thông tin Y học Trung ương)
---------------------------
Kỹ THUậT BǍNG Bó VếT THƯƠNG
1. MụC ĐíCH:Bǎng thường dùng trong cấp cứu và ngoại khoa nhằm mục đích:
1.1 Cầm máu: Bǎng ép trong vết thương phần mềm có chảy máu.
1.2. Bảo vệ, che chở vết thương tránh cọ xát va chạm.
1.3. Chống nhiễm khuẩn thứ phát, thấm hút dịch, máu mủ
1.4. Phối hợp với nẹp để cố định xương gãy tạm thời
2. NGUYÊN TắC.
2.1. Sát khuẩn vết thương sạch sẽ
2.2. Vôkhuẩn triệt để vật liệu, tay cấp cứu viên, dụng cụ
2.3. Thấm hút dịch trong 24 giờ, che kín vết thương ngǎn ngừa nhiễm khuẩn.
2.4. Cuộn bǎng lǎn sát cơ thể từ trái sang phải không để rơi bǎng.
2.5. Bǎng từ dưới lên trên để hở các đầu chi cho tiện theo dõi
2.6. Bǎng vừa chặt, vòng sau đè lên 1/2 - 2/3 vòng trước.
2.7. Bǎng nhẹ nhàng, nhanh chóng, không làm đau đớn tổn thương thêm các tổ chức
2.8. Nút buộc bǎng tránh đè lên vết thương, đầu xương, mặt trong chân tay, chỗ bị tì đè, chỗ dễ cọ xát.
2.9. Tháo bǎng cũ, 2 tay 2 kìm chuyển nhau hoặc có thể dùng kéo cất dọc bǎng để tháo bỏ nhanh.
3. CáC LOạI BǍNG.
3.1. Bǎng cuộn.
Bǎng cuộn là loại bǎng thường dùng để giữ vật liệu bǎng tại chỗ thường áp dụng bǎng ép để chặn đứng sự chảy máu, hạn chế cử động, cố định trong trường hợp gãy xương.
- Bǎng cuộn được làm bằng vải, vải thô, vải thưa, len hay vải thun.
- Bǎng thun là loại bǎng tốt nhất dùng để bǎng nén ép cầm máu, giữ vật liệu bǎng đó tại chỗ không bị xê dịch nhờ tính chất co giãn của nó.
- Bǎng cuộn có nhiều loại và nhiều cỡ, tùy theo vị trí tổn thương của cơ thể mà dùng các loại bǎng thích hợp.
+ Bǎng gạc mịn: Thích hợp với cơ thể trẻ em
+ Bǎng vải: Dùng để bǎng ép cố định và nâng đỡ
+ Bǎng thun: Là loại tốt nhất để bǎng ép
+ Bǎng Esmarch: Bằng cao su dùng trong phòng mổ khi phẫu thuật cắt đoạn chi.
Một cuộn bǎng gồm có 3 phần:
+ Đuôi bǎng: là phần chưa cuộn lại
+ Đầu bǎng: là phần lõi
+ Thân bǎng: phần đã cuộn chặt
Hình 141. Một cuộn bǎng.
- Kích thước trung bình của cuộn bǎng dùng cho người lớn
+ Bǎng ngón tay: 2,5cm x 2m
+ Bǎng cẳng tay, bàn tay: 5cm x 3m
+ Bǎng cánh tay: 5-6cm x 6m
+ Chân: 7-8cm x 7m
+ Thân người: 10-15cm x 10m
3.2. Bǎng dính: Dùng trong các trường hợp thuận tiện nhưng không có tác dụng ép chặt.
3.3. Bǎng tam giác: Loại bǎng này đơn giản và nhanh chóng hơn bǎng cuộn, rất thích hợp cho các trường hợp cấp cứu.
Thường dùng để nâng đỡ che chở chi trên hay giữ yên vật liệu bǎng bó ở
đầu ởtay và ởchân.
3.3.1. Giới thiệu về bǎng tam giác.
a) Các phần của một bǎng tam giác. Hình 143.
b) Cách gấp bǎng tam giác để dự phòng
1. Gấp đôi, gấp 4 để bǎng tam giác nhỏ lại
2. Xếp 2 đấu mút bǎng vào giữa
3. Tiếp tục xếp 2 đầu vào giữa cho đến khi hoàn tất
c) Cách gấp bǎng tam giác (khi cần để làm bǎng cột)
* Bǎng gấp lớn dùng để bất động chi khi di chuyển hay cố định gãy xương.
* Bǎng gấp nhỏ dùng để cố định khớp như cổ chân, cổ tay không có bǎng cuộn.
d) Cách buộc nút an toàn (khi dùng bǎng tam giác)
Khi kết thúc bǎng tam giác phải buộc nút an toàn. Cónhiều loại nút: nút quai chèo, nút nội trợ và nút dẹt.
e) Cách làm nút dẹt.
(1)- Mỗi tay nắm giữ một đầu mút của bǎng tam giác. Đưa đầu mút trái lên trên đầu mút phải rồi luồn xuống dưới.
(2)- Đầu mút phải đưa lên trên đầu mút trái rồi luồn xuống dưới.
(3)- Kéo 2 đầu mút bǎng tam giác bǎng tam giác thắt lại tạo thành mút an toàn.
3.4. Bǎng dải: bǎng dải gồm có bǎng chữ T hoặc bǎng nhiều dải.
4. các kiểu bǎng cơ bản
4.1. Bǎng vòng khóa
Để bắt đầu các kiểu bǎng bằng 2 vòng đầu tiên.
4.2. Bǎng xoáy ốc
- Khởi đầu bằng bǎng vòng khóa.
- Lǎn tròn cuộn bǎng trên bộ phận cần bǎng từ trái sang phải.
- Đường sau chếch lên trên và song song với những đường bǎng trước. Đường sau chồng lên đường trước 1/2 hoặc 1/3 bề rộng cuộn bǎng.
- Kết thúc với 2 vòng tròn và cố định.
Dùng để bǎng những chỗ đều nhau và dài trên cơ thể như cánh tay, ngón tay, nửa người trên.
4.3. Bǎng chữ nhân
- Giống như bǎng xoáy ốc nhưng mỗi vòng đều gấp lại.
- Bắt đầu mối bǎng bằng 2 vòng tròn quanh phần cơ thể cần bǎng bó.
- Quấn 1 vòng xoáy.
- Ngón cái tay trái đè lên chỗ định gấp giữ chặt vòng bǎng.
- Nới dài cuộn bǎng khoảng 15cm.
- Tay phải lật bǎng kéo xuống dưới và gấp lại.
- - Sau đó quấn chặt chỗ bǎng, kết thúc với 2 vòng tròn và cố định.
- Để ý các phần lật đều nhau và khoảng cách đều nhau, không để chỗ gấp trên vết thương hay trên chỗ xương lồi. Thường áp dụng bǎng những chỗ thon không đều như cẳng tay, cẳng chân.
4.4. Bǎng số 8
- Bắt đầu bằng bǎng vòng khóa
- Các đường bǎng sau bǎng chéo và lần lượt thay đổi hướng lên và xuống mỗi lần cuốn vòng bǎng.
- Vòng sau chồng lên vòng trước 1/2 hoặc 2/3 làm thành hình số 8
- Kết thúc bằng 2 vòng bǎng cố định.
4.4.1. Bǎng nách kiểu số 8
4.4.2. Bǎng gáy
- Điều dưỡng viên đứng sau bệnh nhân
- Bắt đầu bǎng 2 vòng tròn quanh đầu
- Hướng đường bǎng xuống gáy
- Quấn 1/2 vòng tròn quanh cổ, không xiết chặt
- Hướng đường bǎng đi lên bắt chéo với vòng trước
- 1/2 vòng tròn quanh đầu và tiếp tục cho đến khi kín gáy
- Kết thúc 2 vòng quanh đầu và cố định
4.4.3. Bǎng tai
- Bǎng phần bên của mặt
- Không bó chặt hàm
- Không làm nghẹt thở
- Bắt đầu bằng 2 vòng tròn quanh đầu
- Hướng đường bǎng qua trước tai trái và đi lên thẳng cho tới trên đầu
- Đưa bǎng đi xuống sau tai phải và qua dưới cằm để trở lên đỉnh đầu
- Tiếp tục như trên cho kín nơi cần bǎng
- Kết thúc bằng một đường bǎng chéo sau ót và một vòng tròn quanh đầu và cố định
4.4.4. Bǎng vai
- Bắt đầu bằng 2 vòng tròn quanh cánh tay
- Vòng đường bǎng qua nách
- Hướng đường bǎng ra sau lưng xuống dưới nách bên kia và trở lại như đã bắt đầu. Bǎng kín vai.
- Kết thúc và cố định trước ngực.
4.4.5. Bǎng 1 vú (vú trái)
- Bắt đầu bằng 2 vòng tròn dưới vú
- Đưa đường bǎng ra sau lưng đi qua vai phải
- Hướng đường bǎng xuống hông trái qua hông phải
- Tiếp tục trở về hông trái, lên vai phải
- Các đường bǎng sau liên tục như trên cho đến khi bǎng kín vú
- Kết thúc 2 vòng tròn dưới vú và cố định.
4.4.6. Bǎng bẹn
- Bắt đầu bằng 2 vòng tròn quanh đùi
- Kéo từ phía ngoài đùi chếch qua xương mu đến gai chậu bên kia
- Vòng qua lưng trở về chỗ cũ, qua bụng chếch xuống phía trong đùi, bắt chéo với vòng trước, đè lên vòng trước 1/2 - 2/3 vòng.
- Vòng qua phía sau đến phía ngoài đùi, chếch qua bụng, đến xương hông. Vòng qua lưng về phía trong đùi.
- Tiếp tục bǎng theo hình số 8 cho đên khi bǎng kín bông gạc mới thôi.
4.4.7. Bǎng đầu gối
- Bắt đầu bằng 2 vòng tròn ngay đầu gối
- Tiếp tục 1 vòng tròn chồng lên vòng tròn đầu 1/2-2/3 ở trên
- Tiếp theo 1 vòng tròn chồng lên 1/2 vòng đầu ở dưới
- Bǎng kiểu số 8 (dẻ quạt) cho đến khi xong
4.5. Bǎng gấp lại (hồi quy)
- Bắt đầu bằng bǎng vòng khóa
- Sau đó lật từ trước ra sau và từ sau ra trước
- Lần thứ nhất bǎng ở giữa
- Các lần sau tỏa dần ra 2 bên kiểu dẻ quạt, mỗi lần đều trở về chỗ bắt đầu gấp cho đến khi bǎng kín
- Kết thúc bằng 2 vòng cố định
Thường áp dụng bǎng ở đầu, bàn tay không tách ngón, chi cắt cụt.
4.6.1. Bǎng treo
a) Bǎng treo rộng: đặt 1 góc bǎng lên vai bên tay lành, góc giữa ở chỗ khuỷu tay dưới nách tay đau, kéo góc ở dưới lên buộc nút ở cổ, để giữ cẳng tay ở trên bǎng treo, gấp góc 90o theo tư thế cơ nǎng của chi trên. Cuối cùng, gấp góc đầu thừa của góc đỉnh lại cho gọn, rồi cài kim bǎng.
b) Bǎng treo hẹp: gấp khǎn tam giác thành dải hẹp (hay thay bằng bǎng cuộn) rồi treo cẳng tay lên như cánh tay.
4.6.2. Bǎng mặt
Trường hợp cả mặt bị bỏng hay bị thương, trước hết buộc nút ở góc giữa chụp lấy đầu và mặt, khoét lỗ con ở mắt ( 2 mắt) và chỗ mũi mồm rồi kéo 2 góc trái và phải ra sau gáy và vòng về đằng trước, buộc nút ở phía trước cổ.
4.6.3. Bǎng đầu
4.6.4. Bǎng bàn tay
- Bǎng kín bàn tay: đặt tay vào giữa khǎn tam giác, ngón tay hướng lên góc đỉnh, gấp góc đỉnh lên sau bàn tay góc trái và góc phải bắt chéo ở mu bàn tay, rồi xuống đến cổ tay lại vòng lại lên mu bàn tay và buộc nút, gấp góc đỉnh lên che lấy chỗ buộc nút.
- Bǎng lòng bàn tay: gấp khǎn tam gác, góc thành dải, từ lòng bàn tay, vòng đến mu bàn tay bắt chéo rồi kếo về phía cổ tay rồi buộc nút ở phía mu tay.
4.6.5. Bǎng bàn tay nắm
Trường hợp bàn tay chảy máu, cho người bệnh nắm một cuộn bǎng gạc, rồi gấp khǎn tam giác thành dải bǎng quanh nắm tay, rồi buộc nắm tay.
4.6.6. Bǎng khuỷu tay
Gấp phía dưới góc khǎn tam giác (rộng độ 5cm) góc đỉnh quay lên trên vai, góc trai và phải vòng qua cánh tay dưới bắt chéo phía trên khuỷu tay, rồi vòng lên cánh tay trên và buộc nút, gấp góc đỉnh xuống.
4.6.7. Bǎng vai
Góc giữa khǎn tam giác quay lên trên, che kín lấy vai, phía dưới khǎn gấp lại rộng 2 ngón tay, bǎng 1 vòng ở giữa cánh tay và buộc nút, còn góc đỉnh thì cố định bằng 2 cách:
+ Cách 1: lấy 1 khǎn tam giác khác để gấp thành dải vòng chéo ở cổ bên đau và nách bên lành, rồi buộc nút giữ lấy góc giữa rồi gấp và ghim lại.
+ Cách 2: dùng bǎng treo hẹp, đè lên góc giữa rồi gấp lại và ghim đồng thời cố định cả cánh tay bị thương.
4.6.8. Bǎng cả bàn chân (cũng như bǎng bàn tay)
4.6.9. Bǎng khớp gối
4.6.10. Bǎng bẹn
4.6.11. Bǎng ngực
4.7. Bǎng dải
Bǎng dải gồm có bǎng chữ T hoặc bǎng nhiều dải.
4.7.1. Bǎng chữ T
Làm bằng vải rộng cỡ 8cm.
Dải dọc dài từ 75-90cm.
Dải ngang dài từ 90-120cm.
- Bǎng chữ T 1 dải dọc dùng để bǎng tầng sinh môn hay bộ phận sinh dục nữ.
- Bǎng chữ T 2 dải dọc (15cm xẻ đôi) dùng để bǎng nâng đỡ tinh hoàn.
4.7.2. Bǎng nhiều dải
Gồm có 4 hoặc 5 dải xếp chồng lên nhau 1/2 khổ.
- Bề rộng mỗi dải 10-15cm.
- Bề dài từ 90-120cm.
- ở giữa may một miếng vải dài khoảng 25cm làm thân bǎng.
Bǎng nhiều dải để bǎng ở ngực hoặc bụng.
- Bǎng ngực có thêm 2 dải nhỏ kéo qua vai đến trước ngực để giữ bǎng.
- Bǎng bụng có thêm 1 dải nhỏ ở dưới để giữ bǎng.
Chú ý:
+ Bǎng bụng bǎng từ dưới đi lên.
+ Bǎng mổ lấy con, bǎng từ trên đi xuống để giúp tử cung trở lại vị trí cũ.
+ Ghim kim cố định ở ngực hay ở bụng, phải ghim ngang theo nếp gấp của da.
5. cách cố định bǎng trước khi kết thúc
- Cố định bằng ghim kim an toàn.
- Cố định bằng móc sắt.
- Cố định bằng keo.
- Bǎng vải cố định bằng cách buộc nút, cắt đôi bề rộng bǎng, bề dài khoảng 15cm. Thắt chéo lại rồi vòng qua chi và buộc nút an toàn.
(theo Viện Thông tin Y học Trung ương)