Samstag, 22. November 2008

Sơ cứu và chǎm sóc vết thương


Vết thương là sự cắt đứt hay dập rách da và tổ chức dưới da hoặc các tổ chức khác của cơ thể.

Vết thương có thể là vết thương kín hoặc vết thương hở.
Vết thương kín (vết thương bên trong) là loại vết thương để cho máu thoát ra ngoài hệ thống tuần hoàn nhưng không chảy ra khỏi cơ thể. Loại này bao gồm: bầm tím, tụ máu dưới da hoặc có thể không có dấu tích ở bên ngoài.
Vết thương hở (vết thương bên ngoài) là loại vết thương để cho máu chảy ra khỏi cơ thể. Loại này bao gồm: các vết trích rạch, vết thương đâm xuyên hoặc thậm chí là vết trượt sây sát trên da.
Trên thực tế có nhiều vết thương vừa là vết thương kín vừa là vết thương hở.
Mục đích chính của việc cấp cứu và chǎm sóc cấp cứu một vết thương là:
- Cầm máu hoặc khống chế sự chảy máu
- Phòng hoặc điều trị sốc
- Duy trì các chức nǎng sinh tồn (giúp nạn nhân thở và lưu thông tuần hoàn)
- Tránh các biến chứng (đặc biệt là giảm nguy cơ nhiễm khuẩn)
1. SƠ CứU Và CHǍM SóC NHữNG VếT THU'ƠNG PHầN MềM
Nếu vết thương chảy nhiều máu phải tiến hành xứ trí cầm máu ngay (xem phần cấp cứu chảy máu ngoài)
1.1 Vết thương nhỏ:
1.1.1. Đối với vết thương bể mặt nhỏ
Vết thương bề mặt nhỏ là vết thương chỉ làm tổn thương những lớp bề mặt của da nên chỉ cần rửa loại vết thương này bằng nước chín hoặc nước máy nếu biết chắc chắn rằng nước máy này đảm bảo chất lượng vệ sinh.
Nếu vết thương quá bẩn phải rửa bằng nước xà phòng.
- Khi rửa vết thương phải:
+ Rửa tay kỹ trước khi bắt đầu
+ Nếu phải dùng dụng cụ như cái kẹp, cái nhíp để gắp những hạt sạn, sỏi... ra khỏi vết thương thì phải đun sôi dụng cụ ít nhất là 5 phút.
+ Sau khi rửa vết thương, nếu có điều kiện thì dùng dung dịch sát khuẩn để sát khuẩn xung quanh vết thương rồi dùng gạc vô khuẩn đặt lên trên vết thương, sau đó dùng bǎng dính hoặc bǎng cuộn bǎng lại. Nếu không có điều kiện thì gấp một miếng vải càng sạch càng tốt để đặt lên trên vết thương (Lưu ý để mắặt có mép gấp ra ngoài) rồi cũng dùng bǎng đính hoặc bǎng cuộn bǎng lại.
+ Nếu vết thương ởtay hoặc chân thì luôn nâng cao vết thương bằng dây đeo hoặc gối kê.
Hình 174. Bǎng vết thương nhỏ bằng bǎng dính.
Hình 1 75. Bǎng bết thương nhỏ bằng bǎng cuộn.
1.1.2. Đối với vết thương bề mặt rộng và sâu hơn.
Để vết thương liền nhanh hơn thì có thể đóng kín hoặc khâu vết thương lại. Nhưng chỉ đóng kín miệng một vết thương bề mặt sâu và rộng trong những điều kiện sau đây:
- Vết thương xảy ra chưa quá 12 giờ.
- Đảm bảo chắc chắn rằng vết thương không còn đất cát hoặc dị vật ẩn náu trong đó.
- Không có khả nǎng tìm được cán bộ y tế chuyên khoa hoặc chuyên môn ca hơn và cũng không thể chuyển nạn nhântới bệnh viện được.
Các phương pháp đóng kín miệng vết thương:
Phương pháp dùng bǎng dính: phương pháp này áp dụng cho những vết thương mà mép vết thương gần sát nhau.
Khi dùng bǎng dính để đóng kín vết thương nên cắt bǎng dính và dán bǎng dính như hình vẽ (cắt bǎng dính thành hình con bướm).
1.2. Vết thương lớn.
Đối với vết thương lớn sau khi xử trí cầm máu có thể rửa xung quanh vết thương bằng dung dịch sát khuẩn hoặc bằng nước chín.
Chỉ lấy dị vật hoặc bụi bẩn ra khỏi vết thương khi có thể lấy ra dễ dàng. Không được thǎm dò vết thương.
Sau đó bǎng bó vết thương rồi chuyển ngay nạn nhân tới cơ sở điều trị càng sớm càng tốt.
Trong khi chờ đợi và trên đường vận chuyển phải theo dõi sát nạn nhân. Giữ nạn nhân ở tư thế đúng, phòng chống và xử trí ngay nếu sốc xảy ra.
Chú ý: nếu có thể nên cố định vết thương vào phần không bị tổn thương của cơ thể và nâng cao vết thương, ví dụ: treo tay bị thương vào ngực, cố định chân bị tổn thương vào chân lành...
2. SƠ CứU Và cHǍM SóC CấP CứU VếT THƯƠNG NặNG.
Một vết thương sâu ởthành bụng là rất nguy hiểm không phải chỉ vì sự chảy máu ngoài mà còn vì những cơ quan bên trong cơ thể bị thủng, rách hoặc gây chảy máu trong và nhiễm khuẩn. Một phần của ruột có thể bị lòi ra khỏi thành bụng.
2.1. Dấu hiệu và triệu chứng.
- Đau khấp ổbụng
- Chảy máu từ vết thương ở vùng bụng
- Có thể nhìn thấy một phần của ruột hoặc một phần ruột đang lòi ra khỏi vết thương
- Nạn nhân có thể bị nôn
- Cóthể có dấu hiệu và triệu chứng của sốc.
2.2. Xử trí cấp cứu.
2.2.1. Mục đích:
Hạn chế nhiễm khuẩn và khống chế chảy máu, trong khi xử trí tránh để ruột bị lòi ra ngoài: Thu xếp chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện.
2.2.2. Hành động
a) Trường hợp ruột chưa bị lòi ra ngoài
- Khống chế sự chảy máu bằng cách ép thận trọng các mép vết thương với nhau.
- Đặt nạn nhân ở tư thế nửa nằm nửa ngồi chống 2 chân để tránh hở vết thương và giảm áp lực lên vùng bị thương. Dùng gối đệm hoặc quần áo gấp lại để đỡ vai, đầu và dưới khoeo chân.
- Đặt một miếng gạc trùm lên vết thương rồi dùng bǎng cuộn hoặc bǎng dính bǎng vết thương lại.
- Nếu nạn nhân bất tỉnh nhưng vẫn thở bình thường thì đặt nạn nhân ở tư thế hồi phục có gối hoặc đệm đỡ vùng bụng.
- Nếu nạn nhân ngừng thở ngừng tim thì tiến hành hồi sức hô hấp tuần hoàn ngay.
- Phòng chống và xử trí sốc (xem phần cấp cứu và chǎm sóc sốc).
* Chú ý: Không cho nạn nhân ǎn uống bất cứ một thứ gì.
- Kiểm tra tần số hô hấp và mạch 10 phút/lần. Phát hiện kịp thời dấu hiệu chảy máu trong.
- Nếu nạn nhân ho hoặc nôn thì dùng tay áp nhẹ lên vùng vết thủng để tránh ruột bị lòi ra ngoài.
- Chuyển nạn nhân tới bệnh viện ngay. Phải coi đây là một cấp cứu ưu tiên. Trong quá trình vận chuyển phải tiếp tục theo dõi sát và xử trí những diễn biến xảy ra.
b) Trong trường hợp một phần ruột bị lòi ra ngoài
- Khống chế sự chảy máu nhưng tránh dùng áp lực ép trực tiếp mạnh quá.
Không chạm vào vết thương, không được đẩy ruột vào trong.
- Đặt một miếng gạc nhỏ hoặc vải tẩm nước muối hoặc nước muối ǎn tự pha trùm lên vết thương rồi bǎng lỏng lại. Phải thường xuyên làm ẩm vết thương bằng dung dịch này. Cách pha dung dịch nước muối: cho 1 thìa cà phê muối ǎn vào 1 lít nước chín. Hoặc có thể dùng vành khǎn hay một cái bát đã luộc để nguội để úp lên vùng bị thương rồi dùng bǎng cuộn bǎng lại.
- Nếu nạn nhân ho hoặc nôn thì cũng dùng tay áp lên vết thương để tránh ruột bị lòi thêm ra ngoài.
- Đặt nạn nhân nằm và tiến hành chǎm sóc cấp cứu như trường hợp ruột không bị lòi ra ngoài.
3. SƠ CứU Và CHǍm SóC CấP CứU CáC VếT THUƠNG NGựC.
Vết thương ngực có nhiều hình thức khác nhau từ những vết thương do dao đâm tới những vết thương do tai nạn bởi những máy móc công nghiệp nặng hoặc do bị bánh xe đè qua trong tai nạn giao thông.
- Vết thương đâm xuyên
- Vết thương giập lồng ngực
- Vết thương có mảng sườn di động.
3.1. Sơ cứu vết thương đâm xuyên.
Vết thương đâm xuyên thường do dao đâm, hoặc những vật cứng nhọn đâm vào hoặc do đạn bắn hoặc do xương sườn bị ép ra phía ngoài da để cho không khí tràn vào khoang ngực. Những vết thương này có thể trở nên phức tạp và phát triển thành vết thương ngực hở.
Trong vết thương này, phổi bên bị thương bị xẹp ngay cả khi phổi đó không bị thủng và không còn khả nǎng hít khí vào... Hơn nữa khi xương sườn nâng lên lúc bệnh nhân thở vào làm cho không khí bên ngoài bị hút vào khoang lồng ngực qua vết thương sẽ chèn ép bên phổi lành dẫn đến tình trạng hô hấp không có hiệu quả và ngạt có thể xảy ra.
3.1.1. Dấu hiệu và triệu chứng
- Đau trong ngực
- Khó thở, thở nông vì có không khí trong lồng ngực
- Tím tái môi, đầu chi và da biểu thị sự bắt đầu của ngạt
- Ho ra máu đỏ tươi có lẫn bọt nếu phổi bị tổn thương
- Cóthể nghe thấy tiếng thở "phì phò" ởmiệng vết thương khi nạn nhân thở.
- Cóbọt màu hồng ởmiệng vết thủng khi thở ra.
- Dấu hiệu và triệu chứng của sốc.
3.1.2. Xử trí cấp cứu: trường hợp không có dị tật
a) Mục đích: Làm dễ thở bằng cách làm kín ngay vết thương, thu xếp chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện.
b) Hành động:
- Ngay lập tức dùng bàn tay bịt kín miệng vết thương
- Đặt nạn nhân ởtư thế nửa nằm ngửa ngồi nghiêng về phía bên phổi bị thương để bên phổi lành hoạt động được thuận lợi. Dùng gối hoặc đệm hay quần áo gấp lại để ởlưng, và đầu.
- Nhẹ nhàng dặt một miếng gạc vô khuẩn hoặc vải sạch lên trên miệng vết thương.
- Phủ lên trên miếng gạc hoặc miếng vải một miếng giấy bóng.
- Dùng bǎng dính dán các mép của miếng giấy bóng vào da.
- Dùng bǎng cuộn bǎng ép lại
- Nếu vết thương có lỗ vào và lỗ ra thì phải kiểm tra và có thể phải bǎngkín cả 2 vết thương.
- Nếu nạn nhân vẫn thở bình thường nhưng bị bất tỉnh thì đặt nạn nhân ởtư thế hồi phục, bên phổi lành ởphía trên.
- Phòng chống và xử trí xốc (xem bài cấp cứu sốc).
- Kiểm ra tần số mạch nhịp thở và mức độ tỉnh táo 10 phút/lần. Phát hiện kịp thời dấu hiệu chảy máu trong.
Hình 176. Bǎng kín vết thương ngực hở.
- Chuyển nạn nhân tới ngay bệnh viện. Phải coi đây là một cấp cứu ưu tiên. Trong khi vận chuyển vẫn phải theo dõi sát nạn nhân, giữ nạn nhân ở tư thế đúng và xử trí những diễn biến xảy ra.
Trường hợp vẫn còn dị vật
- Không được rút dị vật ra.
- Bịt kín vết thương bằng cách ép mép vết thương sát với dị vật.
- Đặt gạc hoặc miếng vải xung quanh dị vật.
- Đặt một vành khǎn lên trên vết thương sau đó bǎng kín lại như vết thương không có dị vật.
- Chǎm sóc và theo dõi tiếp theo như đã nêu ở trên.
3.2. Sơ cứu vết thương giập lồng ngực.
- Bǎng bó vết thương bề mặt nếu có.
- Bǎng ép tay bên bị thương hoặc cả 2 tay nếu cả hai lồng ngực đều bị tổn thương vào ngực nạn nhân (khi bǎng để nguyên cả áo). Bǎng ép chặt vừa đủ (thắt nút khi thở ra). Nhưng nếu các xương sườn gãy thì không được bǎng ép chặt quá vì có thể làm đầu xương sườn chọc vào phổi.
- Đặt nạn nhân nằm tư thế như trường hợp bị vết thương đâm xuyên.
- Phòng chống và xử trí sốc nếu xảy ra (xem bài cấp cứu sốc).
- Chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện.
Hình 1 77. Buộc tay vào ngực khi bị giập lồng ngực.
3.3. Sơ cứu vết thương có mảng sườn di dộng.
Vấn đề chính của vết thương ngực có gãy nhiều xương sườn là làm nạn nhân rất khó thở và đau. Hơn nữa đầu của các xương sườn gãy có thể làm thủng hoặc rách màng phổi và phổi và gây nên tràn khí dưới da và tràn khí màng phổi gây chèn ép phổi và nếu các xương sườn gãy liền nhau và gãy thành nhiều mảnh thì sẽ tạo thành mảng sườn di động và gây nên "hô hấp đảo ngược". Mảng sườn này di động ngược chiều với phần còn lại của thành ngực làm cho hô hấp không hữu hiệu và gây nên xẹp bên phổi tổn thương.
Mảng sườn di động vào trong khi thở vào và ra ngoài khi thở ra.
Phần còn lại của thành ngực di động ra ngoài khi thở vào và vào trong khi thở ra.
Hình 178. Vết thương có mảng sườn di động gây nhịp thở đảo ngược
Khi gặp một nạn nhân bị vết thương thành ngực có mảng sườn di động ta phải nhanh chóng cố định thành ngực nạn nhân.
Cách cố định:
- áp một vật chắc như một tấm vải gấp lại (hoặc dùng một gói nhỏ) lên trên phần bị tổn thương của thành ngực rồi dùng bǎng cuộn bǎng chặt lại (H. 179).
- Hoặc buộc tay nạn nhân vào ngực.
- Hoặc dùng bǎng dính to bản giữ mảng sườn di động vào phần còn lại của thành ngực.
Với sự cố định này sẽ giúp nạn nhân tự thở dễ dàng, và hô hấp sẽ hữu hiệu hơn.
Sau khi cố định đặt nạn nhân nằm tư thế nào mà nạn nhân cảm thấy thoải mái nhất. Thường là đặt nạn nhân nằm tư thế nửa nằm nửa ngồi, nghiêng về bên bị tổn thương dùng gối hoặc đệm để ởđầu và lưng.
Đề phòng và xử trí sốc và nhanh chóng chuyển nạn nhân tới bệnh viện.
Hình 179. Cố định thành ngực bằng một gối mỏng và bǎng cuộn
Trong khi chờ đợi và trên đường vận chuyển phải theo dõi sát nạn nhân, xử trí và chǎm sóc kịp thời những diễn biến xảy ra.
4. SƠ Cứu VếT THưƠNG ở ĐầU.
Chấn thương ởđầu là chấn thương thường gặp do các nguyên nhân:
Tai nạn lao động,giao thông, sinh hoạt hoặc do hỏa khí gây tổn thương rất phức tạp, đa dạng. Trong bài này chỉ đề cập vấn đề sơ cứu vết thương rách da đầu và vết thương vỡ sọ.
4.1. Dấu hiệu và triệu chứng
- Rách da đầu gây chảy nhiều máu.
- Có thể thấy não phòi ra ngoài.
- Nạn nhân tỉnh táo hoặc nửa tỉnhnửa mê hoặc hôn mê.
- Cóthể có rối loạn hô hấp, khó thở, xuất tiết nhiều đờm dãi...
4.2. Xử trí cấp cứu.
4.2.1. Trường hợp rách da đầu gây chảy nhiều máu
- ép chặt 2 mép vết thương lại với nhau để cầm máu sơ bộ.
- Cắt tóc xung quanh vết thương
- Đặt gạc hoặc bông vô khuẩn lên trên vết thương rồi dùng bǎng cuộn bǎng ép lại. Nếu có điều kiện thì dùng kẹp agraf để bấm 2 mép vết thương lại với nhau sau đó bǎng lại.
- Chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế để xử trí tiếp..
4.2.2. Trường hợp vỡ xương sọ có não phòi ra ngoài
- Không được bôi lên não bất kỳ thứ thuốc gì
- Phủ lên phần não phòi ra một miếng gạc vô khuẩn.
- Nếu có điều kiện thì đặt một vành khǎn xung quanh tổ chức não phòi ra rồi dùng bǎng cuộn bǎng lại.
- Nếu không dùng vành khǎn thì chỉ được bǎng lỏng để tránh gây chèn ép não.
Chú ý:
- Nếu nạn nhân không tỉnh táo, lơ mơ hoặc mê man thì cần chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện.
- Nếu nạn nhân có xuất tiết đờm dãi thì phải làm sạch đờm dãi, làm thông đường hô hấp.
- Đặt nạn nhân nầm tư thế thoải mái an toàn. Nếu tình trạng nạn nhân cho phép thì nên đặt nạn nhân ởtư thế đầu cao, đầu nghiêng về bên lành.
- Theo dõi sát tình trạng nạn nhân 10 phút/1ần.


(theo Viện Thông tin Y học Trung ương)

---------------------------
Kỹ THUậT BǍNG Bó VếT THƯƠNG
1. MụC ĐíCH:
Bǎng thường dùng trong cấp cứu và ngoại khoa nhằm mục đích:
1.1 Cầm máu: Bǎng ép trong vết thương phần mềm có chảy máu.
1.2. Bảo vệ, che chở vết thương tránh cọ xát va chạm.
1.3. Chống nhiễm khuẩn thứ phát, thấm hút dịch, máu mủ
1.4. Phối hợp với nẹp để cố định xương gãy tạm thời
2. NGUYÊN TắC.
2.1. Sát khuẩn vết thương sạch sẽ
2.2. Vôkhuẩn triệt để vật liệu, tay cấp cứu viên, dụng cụ
2.3. Thấm hút dịch trong 24 giờ, che kín vết thương ngǎn ngừa nhiễm khuẩn.
2.4. Cuộn bǎng lǎn sát cơ thể từ trái sang phải không để rơi bǎng.
2.5. Bǎng từ dưới lên trên để hở các đầu chi cho tiện theo dõi
2.6. Bǎng vừa chặt, vòng sau đè lên 1/2 - 2/3 vòng trước.
2.7. Bǎng nhẹ nhàng, nhanh chóng, không làm đau đớn tổn thương thêm các tổ chức
2.8. Nút buộc bǎng tránh đè lên vết thương, đầu xương, mặt trong chân tay, chỗ bị tì đè, chỗ dễ cọ xát.
2.9. Tháo bǎng cũ, 2 tay 2 kìm chuyển nhau hoặc có thể dùng kéo cất dọc bǎng để tháo bỏ nhanh.
3. CáC LOạI BǍNG.
3.1. Bǎng cuộn.
Bǎng cuộn là loại bǎng thường dùng để giữ vật liệu bǎng tại chỗ thường áp dụng bǎng ép để chặn đứng sự chảy máu, hạn chế cử động, cố định trong trường hợp gãy xương.
- Bǎng cuộn được làm bằng vải, vải thô, vải thưa, len hay vải thun.
- Bǎng thun là loại bǎng tốt nhất dùng để bǎng nén ép cầm máu, giữ vật liệu bǎng đó tại chỗ không bị xê dịch nhờ tính chất co giãn của nó.
- Bǎng cuộn có nhiều loại và nhiều cỡ, tùy theo vị trí tổn thương của cơ thể mà dùng các loại bǎng thích hợp.
+ Bǎng gạc mịn: Thích hợp với cơ thể trẻ em
+ Bǎng vải: Dùng để bǎng ép cố định và nâng đỡ
+ Bǎng thun: Là loại tốt nhất để bǎng ép
+ Bǎng Esmarch: Bằng cao su dùng trong phòng mổ khi phẫu thuật cắt đoạn chi.
Một cuộn bǎng gồm có 3 phần:
+ Đuôi bǎng: là phần chưa cuộn lại
+ Đầu bǎng: là phần lõi
+ Thân bǎng: phần đã cuộn chặt
Hình 141. Một cuộn bǎng.
- Kích thước trung bình của cuộn bǎng dùng cho người lớn
+ Bǎng ngón tay: 2,5cm x 2m
+ Bǎng cẳng tay, bàn tay: 5cm x 3m
+ Bǎng cánh tay: 5-6cm x 6m
+ Chân: 7-8cm x 7m
+ Thân người: 10-15cm x 10m
3.2. Bǎng dính: Dùng trong các trường hợp thuận tiện nhưng không có tác dụng ép chặt.
3.3. Bǎng tam giác: Loại bǎng này đơn giản và nhanh chóng hơn bǎng cuộn, rất thích hợp cho các trường hợp cấp cứu.
Thường dùng để nâng đỡ che chở chi trên hay giữ yên vật liệu bǎng bó ở
đầu ởtay và ởchân.
3.3.1. Giới thiệu về bǎng tam giác.
a) Các phần của một bǎng tam giác. Hình 143.
b) Cách gấp bǎng tam giác để dự phòng
1. Gấp đôi, gấp 4 để bǎng tam giác nhỏ lại
2. Xếp 2 đấu mút bǎng vào giữa
3. Tiếp tục xếp 2 đầu vào giữa cho đến khi hoàn tất
c) Cách gấp bǎng tam giác (khi cần để làm bǎng cột)
* Bǎng gấp lớn dùng để bất động chi khi di chuyển hay cố định gãy xương.
* Bǎng gấp nhỏ dùng để cố định khớp như cổ chân, cổ tay không có bǎng cuộn.
d) Cách buộc nút an toàn (khi dùng bǎng tam giác)
Khi kết thúc bǎng tam giác phải buộc nút an toàn. Cónhiều loại nút: nút quai chèo, nút nội trợ và nút dẹt.
e) Cách làm nút dẹt.
(1)- Mỗi tay nắm giữ một đầu mút của bǎng tam giác. Đưa đầu mút trái lên trên đầu mút phải rồi luồn xuống dưới.
(2)- Đầu mút phải đưa lên trên đầu mút trái rồi luồn xuống dưới.
(3)- Kéo 2 đầu mút bǎng tam giác bǎng tam giác thắt lại tạo thành mút an toàn.
3.4. Bǎng dải: bǎng dải gồm có bǎng chữ T hoặc bǎng nhiều dải.
4. các kiểu bǎng cơ bản
4.1. Bǎng vòng khóa
Để bắt đầu các kiểu bǎng bằng 2 vòng đầu tiên.
4.2. Bǎng xoáy ốc
- Khởi đầu bằng bǎng vòng khóa.
- Lǎn tròn cuộn bǎng trên bộ phận cần bǎng từ trái sang phải.
- Đường sau chếch lên trên và song song với những đường bǎng trước. Đường sau chồng lên đường trước 1/2 hoặc 1/3 bề rộng cuộn bǎng.
- Kết thúc với 2 vòng tròn và cố định.
Dùng để bǎng những chỗ đều nhau và dài trên cơ thể như cánh tay, ngón tay, nửa người trên.
4.3. Bǎng chữ nhân
- Giống như bǎng xoáy ốc nhưng mỗi vòng đều gấp lại.
- Bắt đầu mối bǎng bằng 2 vòng tròn quanh phần cơ thể cần bǎng bó.
- Quấn 1 vòng xoáy.
- Ngón cái tay trái đè lên chỗ định gấp giữ chặt vòng bǎng.
- Nới dài cuộn bǎng khoảng 15cm.
- Tay phải lật bǎng kéo xuống dưới và gấp lại.
- - Sau đó quấn chặt chỗ bǎng, kết thúc với 2 vòng tròn và cố định.
- Để ý các phần lật đều nhau và khoảng cách đều nhau, không để chỗ gấp trên vết thương hay trên chỗ xương lồi. Thường áp dụng bǎng những chỗ thon không đều như cẳng tay, cẳng chân.
4.4. Bǎng số 8
- Bắt đầu bằng bǎng vòng khóa
- Các đường bǎng sau bǎng chéo và lần lượt thay đổi hướng lên và xuống mỗi lần cuốn vòng bǎng.
- Vòng sau chồng lên vòng trước 1/2 hoặc 2/3 làm thành hình số 8
- Kết thúc bằng 2 vòng bǎng cố định.
4.4.1. Bǎng nách kiểu số 8
4.4.2. Bǎng gáy
- Điều dưỡng viên đứng sau bệnh nhân
- Bắt đầu bǎng 2 vòng tròn quanh đầu
- Hướng đường bǎng xuống gáy
- Quấn 1/2 vòng tròn quanh cổ, không xiết chặt
- Hướng đường bǎng đi lên bắt chéo với vòng trước
- 1/2 vòng tròn quanh đầu và tiếp tục cho đến khi kín gáy
- Kết thúc 2 vòng quanh đầu và cố định
4.4.3. Bǎng tai
- Bǎng phần bên của mặt
- Không bó chặt hàm
- Không làm nghẹt thở
- Bắt đầu bằng 2 vòng tròn quanh đầu
- Hướng đường bǎng qua trước tai trái và đi lên thẳng cho tới trên đầu
- Đưa bǎng đi xuống sau tai phải và qua dưới cằm để trở lên đỉnh đầu
- Tiếp tục như trên cho kín nơi cần bǎng
- Kết thúc bằng một đường bǎng chéo sau ót và một vòng tròn quanh đầu và cố định
4.4.4. Bǎng vai
- Bắt đầu bằng 2 vòng tròn quanh cánh tay
- Vòng đường bǎng qua nách
- Hướng đường bǎng ra sau lưng xuống dưới nách bên kia và trở lại như đã bắt đầu. Bǎng kín vai.
- Kết thúc và cố định trước ngực.
4.4.5. Bǎng 1 vú (vú trái)
- Bắt đầu bằng 2 vòng tròn dưới vú
- Đưa đường bǎng ra sau lưng đi qua vai phải
- Hướng đường bǎng xuống hông trái qua hông phải
- Tiếp tục trở về hông trái, lên vai phải
- Các đường bǎng sau liên tục như trên cho đến khi bǎng kín vú
- Kết thúc 2 vòng tròn dưới vú và cố định.
4.4.6. Bǎng bẹn
- Bắt đầu bằng 2 vòng tròn quanh đùi
- Kéo từ phía ngoài đùi chếch qua xương mu đến gai chậu bên kia
- Vòng qua lưng trở về chỗ cũ, qua bụng chếch xuống phía trong đùi, bắt chéo với vòng trước, đè lên vòng trước 1/2 - 2/3 vòng.
- Vòng qua phía sau đến phía ngoài đùi, chếch qua bụng, đến xương hông. Vòng qua lưng về phía trong đùi.
- Tiếp tục bǎng theo hình số 8 cho đên khi bǎng kín bông gạc mới thôi.
4.4.7. Bǎng đầu gối
- Bắt đầu bằng 2 vòng tròn ngay đầu gối
- Tiếp tục 1 vòng tròn chồng lên vòng tròn đầu 1/2-2/3 ở trên
- Tiếp theo 1 vòng tròn chồng lên 1/2 vòng đầu ở dưới
- Bǎng kiểu số 8 (dẻ quạt) cho đến khi xong
4.5. Bǎng gấp lại (hồi quy)
- Bắt đầu bằng bǎng vòng khóa
- Sau đó lật từ trước ra sau và từ sau ra trước
- Lần thứ nhất bǎng ở giữa
- Các lần sau tỏa dần ra 2 bên kiểu dẻ quạt, mỗi lần đều trở về chỗ bắt đầu gấp cho đến khi bǎng kín
- Kết thúc bằng 2 vòng cố định
Thường áp dụng bǎng ở đầu, bàn tay không tách ngón, chi cắt cụt.
4.6.1. Bǎng treo
a) Bǎng treo rộng: đặt 1 góc bǎng lên vai bên tay lành, góc giữa ở chỗ khuỷu tay dưới nách tay đau, kéo góc ở dưới lên buộc nút ở cổ, để giữ cẳng tay ở trên bǎng treo, gấp góc 90o theo tư thế cơ nǎng của chi trên. Cuối cùng, gấp góc đầu thừa của góc đỉnh lại cho gọn, rồi cài kim bǎng.
b) Bǎng treo hẹp: gấp khǎn tam giác thành dải hẹp (hay thay bằng bǎng cuộn) rồi treo cẳng tay lên như cánh tay.
4.6.2. Bǎng mặt
Trường hợp cả mặt bị bỏng hay bị thương, trước hết buộc nút ở góc giữa chụp lấy đầu và mặt, khoét lỗ con ở mắt ( 2 mắt) và chỗ mũi mồm rồi kéo 2 góc trái và phải ra sau gáy và vòng về đằng trước, buộc nút ở phía trước cổ.
4.6.3. Bǎng đầu
4.6.4. Bǎng bàn tay
- Bǎng kín bàn tay: đặt tay vào giữa khǎn tam giác, ngón tay hướng lên góc đỉnh, gấp góc đỉnh lên sau bàn tay góc trái và góc phải bắt chéo ở mu bàn tay, rồi xuống đến cổ tay lại vòng lại lên mu bàn tay và buộc nút, gấp góc đỉnh lên che lấy chỗ buộc nút.
- Bǎng lòng bàn tay: gấp khǎn tam gác, góc thành dải, từ lòng bàn tay, vòng đến mu bàn tay bắt chéo rồi kếo về phía cổ tay rồi buộc nút ở phía mu tay.
4.6.5. Bǎng bàn tay nắm
Trường hợp bàn tay chảy máu, cho người bệnh nắm một cuộn bǎng gạc, rồi gấp khǎn tam giác thành dải bǎng quanh nắm tay, rồi buộc nắm tay.
4.6.6. Bǎng khuỷu tay
Gấp phía dưới góc khǎn tam giác (rộng độ 5cm) góc đỉnh quay lên trên vai, góc trai và phải vòng qua cánh tay dưới bắt chéo phía trên khuỷu tay, rồi vòng lên cánh tay trên và buộc nút, gấp góc đỉnh xuống.
4.6.7. Bǎng vai
Góc giữa khǎn tam giác quay lên trên, che kín lấy vai, phía dưới khǎn gấp lại rộng 2 ngón tay, bǎng 1 vòng ở giữa cánh tay và buộc nút, còn góc đỉnh thì cố định bằng 2 cách:
+ Cách 1: lấy 1 khǎn tam giác khác để gấp thành dải vòng chéo ở cổ bên đau và nách bên lành, rồi buộc nút giữ lấy góc giữa rồi gấp và ghim lại.
+ Cách 2: dùng bǎng treo hẹp, đè lên góc giữa rồi gấp lại và ghim đồng thời cố định cả cánh tay bị thương.
4.6.8. Bǎng cả bàn chân (cũng như bǎng bàn tay)
4.6.9. Bǎng khớp gối
4.6.10. Bǎng bẹn
4.6.11. Bǎng ngực
4.7. Bǎng dải
Bǎng dải gồm có bǎng chữ T hoặc bǎng nhiều dải.
4.7.1. Bǎng chữ T
Làm bằng vải rộng cỡ 8cm.
Dải dọc dài từ 75-90cm.
Dải ngang dài từ 90-120cm.
- Bǎng chữ T 1 dải dọc dùng để bǎng tầng sinh môn hay bộ phận sinh dục nữ.
- Bǎng chữ T 2 dải dọc (15cm xẻ đôi) dùng để bǎng nâng đỡ tinh hoàn.
4.7.2. Bǎng nhiều dải
Gồm có 4 hoặc 5 dải xếp chồng lên nhau 1/2 khổ.
- Bề rộng mỗi dải 10-15cm.
- Bề dài từ 90-120cm.
- giữa may một miếng vải dài khoảng 25cm làm thân bǎng.
Bǎng nhiều dải để bǎng ở ngực hoặc bụng.
- Bǎng ngực có thêm 2 dải nhỏ kéo qua vai đến trước ngực để giữ bǎng.
- Bǎng bụng có thêm 1 dải nhỏ ở dưới để giữ bǎng.
Chú ý:
+ Bǎng bụng bǎng từ dưới đi lên.
+ Bǎng mổ lấy con, bǎng từ trên đi xuống để giúp tử cung trở lại vị trí cũ.
+ Ghim kim cố định ở ngực hay ở bụng, phải ghim ngang theo nếp gấp của da.
5. cách cố định bǎng trước khi kết thúc
- Cố định bằng ghim kim an toàn.
- Cố định bằng móc sắt.
- Cố định bằng keo.
- Bǎng vải cố định bằng cách buộc nút, cắt đôi bề rộng bǎng, bề dài khoảng 15cm. Thắt chéo lại rồi vòng qua chi và buộc nút an toàn.

(theo Viện Thông tin Y học Trung ương)

các phương pháp cầm máu và làm garo

các phương pháp cầm máu và làm garo
1. ĐạI CU'ƠNG.
Máu lưu thông trong cơ thể cung cấp cho các tổ chức tế bào oxy và chất dinh dưỡng, do đó để đảm bảo cho sự cung cấp này thì phải duy trì sự lưu thông tuần hoàn của máu trong cơ thể. Huyết áp và áp lực dể duy trì sự lưu thông tuần hoàn của máu.
Mất nhiều máu làm giảm huyết áp. Nếu chảy máu ở mức độ ít trầm trọng thì cơ thể sẽ bù, lại bằng cách tǎng nhịp tim và hạn chế máu tới tổ chức dưới da và ruột, để tǎng cường lượng máu tới các cơ quan sống còn của cơ thể như não. Nếu như huyết áp thấp bất thường vì bất cứ nguyên nhân gì thì chỉ sau một thời gian, thậm chí chỉ sau 30 phút thì những cơ quan quan trọng của cơ thể như não, tim và thận sẽ bị tổn thương nghiêm trọng. Thận là cơ quan đặc biệt nhạy cảm với sự giảm lưu lượng tuần hoàn và suy thận có thể xảy ra ngay sau một giai đoạn sốc ngắn.
Cơ thể có những cơ chế bảo vệ để chống lại sự chảy máu. Khi mạch máu bị cắt đứt thì đầu mạch máu bị đứt co lại để giảm sự chảy máu.
Mạch máu co lại làm giảm lưu lượng máu tới các đầu mạch bị tổn thương tạo điều kiện để các cục máu đông được hình thành, do đó chống lại sự mất máu thêm.
2. CáC LOạI CHảY MáU.
2.1. Chảy máu động mạch:
Máu động mạch (trừ máu động mạch phổi) có màu đỏ tươi. Khi bị đứt động mạch, máu chảy ra thành tia và phun mạnh lên khi mạch đập.
2.2. Chảy máu tĩnh mạch:
Máu tĩnh mạch có màu đỏ sẫm (trừ máu tĩnh mạch phổi). Khi bị đứt tĩnh mạch máu chỉ đùn ra hoặc phun ra từ từ.
2.3. Chảy máu mao mạch:
Mao mạch là những mạch máu nhỏ nối giữa động mạch và tĩnh mạch. Máu rỉ ra từ vết thương trong những trường hợp vết thương là vết cắt hoặc giập nát nhỏ. Trong những vết thương lớn hơn có tổn thương cả tĩnh mạch hoặc động mạch hoặc cả động mạch tĩnh mạch thì các mao mạch chảy ra bị máu tĩnh mạch và động mạch át đi.
3. Sự CHảY MáU Có THÊ Được PHÂN THàNH 2 LOạI
3.1. Chảy máu ngoài: Máu chảy ra từ vết thương trên cơ thể (nhìn thấy được)
3.2. Chảy máu trong:
Máu chảy ra từ vết thương bên trong cơthể (không nhìn thấy được). Mất máu trong cơ thể là: mất máu trong ẩn dấu (máu đọng lại bên trong cơ thể không nhìn thấy) và mất máu trong lộ ra (nhìn thấy). Khi đã nhận định, đánh giá tình trạng chảy máu xong thì phải có những ưu tiên để cầm máu và chǎm sóc.
Trong những trường hợp chảy máu nặng thì cần sự hồi sinh cho nạn nhân. Có những trường hợp không thể cầm máu hoàn toàn được nhưng tiến hành cầm máu và hồi sinh ngay cho nạn nhân nên đã duy trì được sự sống của nạn nhân cho đến khi chuyển tới cơ sở y tế có khả nǎng giải quyết và nạn nhân đã được cứu sống.
4. TRIệU CHứNG Và DấU HIệU CủA MấT NHIềU MáU.
- Bằng chứng của sự mất máu: có thể có hoặc không.
- Da xanh nhợt, lạnh, vã mồ hôi.
- Hoảng hốt, giãy giụa, kích thích, ý thức lú lẫn, lộn xộn, thay đổi mức độ tỉnh táo
- Nhịp thở nhanh nông (đói không khí)
- Mạch nhanh và yếu
- Tiến triển dần tới tình trạng "sốc"
5. CáC Kỹ THUậT CầM MáU.
5.1. Cầm máu mao mạch, tĩnh mạch.
Nhanh chóng ép trực tiếp lên vết thương hoặc dùng tay ép vết thương lại. Nếu có điều kiện thì đặt lên vết thương một miếng gạc hoặc miếng vải sạch trước khi ép trực tiếp lên vết thương.
- Đặt nạn nhân nằm ở tư thế thoải mái thuận tiện, nâng cao vùng bị tổn thương vì sự nâng cao làm giảm áp lực máu ở vùng đó nên làm giảm chảy máu.
- Dùng bǎng cuộn hoặc dây vải bǎng ép miếng gạc hoặc miếng vải vào vết thương. Không bǎng quá chặt như hình thức ga rô.
- Nếu máu thấm qua bông thì dùng bǎng quấn thêm lên bǎng cũ. Đừng tháo bỏ bǎng cũ khi thấm máu.
- Giữ yên tĩnh cho nạn nhân, động viên an ủi nếu nạn nhân tỉnh táo.
- Chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế nếu thấy cần thiết.
- Trong khi chờ đợi hoặc trên đường vận chuyển phải luôn kiểm tra theo dõi tình trạng hô hấp, tuần hoàn của nạn nhân. Giữ ấm cho nạn nhân. Nâng cao chân và tay bị tổn thương. Nếu nạn nhân tỉnh táo thì cho uống nhiều nước.
* Một số điểm chú ý khi xử trí vết thương chảy máu
- Nếu các vết thương chảy máu có dị vật như mảnh gỗ, kim loại hoặc bất kỳ một vật gì đâm vào mà vẫn còn cắm ởvết thương thì không bao giờ dược rút những dị vật đó ra khỏi vết thương. Trong trường hợp này một vòng đệm (vành khǎn) làm bằng một miếng vải vuông hoặc một khǎn tam giác quấn lại thành vòng đệm xung quanh dị vật sau đó dùng bǎng ép lại rồi chuyển nạn nhân tới bệnh viện.
- Nếu bǎng ép áp lực trực tiếp lên vết thương mà không cầm được máu, máu vẫn chảy ra nhiều thì phải dùng các biện pháp khác để cầm máu.
- Phương pháp ấn vào động mạch chi phối vùng có vết thương.
- Điểm ấn vào động mạch là điểm mà ở chỗ đó động mạch đi trên một nền cứng ví dụ như xương. Khi ấn vào điểm này động mạch sẽ bị ép vào xương do đó cắt đứt luồng máu cung cấp cho vùng ở phía bên kia của điểm ấn nên sẽ kiềm chế được sự chảy máu ở vết thương tạo điều kiện cho vết thương tự cầm máu. Ví dụ: Khi ấn động mạch đùi thì toàn bộ chi dưới không được cung cấp máu. Phương pháp này chỉ được áp dụng khi đã bǎng ép trực tiếp lên vết thương và nâng cao phần bị thương mà vẫn không cầm được máu. Có6 điểm ấn chính được sử dụng để làm ngừng chảy máu trên những vùng khác nhau của cơ thể.
+ Động mạch cảnh: Động mạch này nằm ở bên cạnh khí quản. Khi ấn phải ấn về phía sau lên trên cột sống vì nếu ấn sang bên thì sẽ ấn vào khí quản làm tắc đường thở. n động mạch cảnh để khống chế sự chảy máu ở vùng cổ và đầu.
+ Động mạch thái dương: Điểm ấn của động mạch này ởngay phía trước của tai.
+ Động mạch mặt: Điểm ấn của động mạch này ở cách góc hàm khoảng 2,5cm về phía trước. Khi ấn phải ấn vào mặt ngoài xương hàm dưới....
+ Động mạch dưới đòn: Điểm ấn ở ngay phía sau đầu trong xương đòn.
Khi ấn phải ấn xuống dưới về phía xương sườn thứ ri.hất.
+ Động mạch cánh tay: Điểm ấn ở mặt trong của tay ở đoạn giữa của khuỷu tay và vai. Khi ấn dùng tay bóp vào trong xương cánh tay.
+ Động mạch đùi: Điểm ấn ở đoạn giữa của nếp bẹn. Khi ấn thường dùng 2 đầu ngón tay cái ấn xuống phía xương chậu hoặc dùng cả bàn tay để ấn thẳng xuống vùng nếp bẹn.
5.2. Cầm máu động mạch.
5.2.1. Đặt ga rô
a) Ga rô chính quy.
- Dùng một bǎng cao su mỏng mềm đàn hồi tốt, to bản, dài (Esmareh)
+ Chi trên: Rộng 3 - 5cm, dài: 1,2 - 2m
+ Chi dưới: Rộng 5 - 8cm, dài 2 -3m
* Nguyên tắc đặt ga rô.
- Chặn động mạch trên đường đi của động mạch dẫn tới vết thương.
- Đặt ga rô cách vết thương 2 - 3cm
- Không đặt ga rô trực tiếp lên da thịt của bệnh nhân, phải có vòng đệm
- Xử trí vết thương phần mềm.
- Tổng số giờ đặt ga rô không quá 6 giờ, 1 giờ nới ga rô một lần, mỗi lần nới không quá 1 phút.
- Phải có phiếu ga rô đặt ởnơi dễ nhìn thấy nhất. Viết chữ phiếu ga rô màu đỏ, khung của phiếu ga rô màu đỏ trong đó có ghi nội dung của phiếu ga rô. Vận chuyển ưu tiên số 1.
* Kỹ thuật tiến hành.
Chuẩn bị dụng cụ:
+ Ga rô Esmarch.
+ Vòng bǎng lót
+ Bông gạc vô khuẩn
+ Bǎng cuộn, phiếu ga rô
- Chặn động mạch để cầm máu ngay trên đường đi của động mạch dẫn
đến vết thương.
- Đặt ga rô cách vết thương 2-3cm
+ Vòng 1: Vừa phải
+ Vòng 2: Chặt hơn
+ Vòng 3: Chặt nhất (Quyết định sự cầm máu)
+ Vòng 4: Nới rộng để nhét cuộn ga rô còn lại vào
- Xử trí vết thương: Sát khuẩn xung quanh, đặt gạc bǎng lại, viết phiếu ga rô
- Nới ga rô: Luồn 2 ngón tay vào vòng cuối cùng nâng lên, rút cuộn ga rô vừa cuộn lại vừa nới hết vòng thứ 3 từ từ.
- Quan sát vùng dưới vết thương thấy hồng, ấm lại thì cuốn lại vòng thứ 3 chặt, vòng thứ 4 nới lỏng để nhét cuộn ga rô còn lại.
b) Ga rô tùy ứng.
+ Khǎn mùi xoa 2-3 chiếc
+ Bút chì, thước kẻ, đũa, dây buộc
* Tiến hành
- Chặn động mạch
+ Quấn một khǎn lót trên vết thương
+ Một khǎn gấp chéo nhỏ lại buộc lỏng trên khǎn thứ nhất.
+ Luồn một que vừa nâng vừa xoắn khǎn thứ hai đến khi máu ngừng chảy.
+ Cố định que tránh va chạm vào vết thương
- Xử trí và bǎng vết thương chuyển nhanh đến tuyến trên.
5.2.2. Bǎng ép động mạch cổ.
a) Dụng cụ
- 1 nẹp dài từ quá đầu đến quá khuỷu tay
- Bǎng cuộn: 2-3 cuộn
- Gạc vô khuẩn
b) Tiến hành
- Chặn động mạch cổ
- Xử trí vết thương
- Đặt một vật (bǎng, gạc cuộn chặt lại) chặn lên động mạch.
- Cố định nẹp vào đầu, cánh tay và giữ vật chặn tại chỗ
- Treo cánh tay vuông góc với cẳng tay bằng khǎn chéo.
- Chuyển ưu tiên cấp cứu số 1 đến khoa ngoại.
6. Xử TRí CấP CứU Và CHǎM SóC CấP CứU CHảY MáU TRONG.
Chảy máu trong cơ thể gây mất máu rất trầm trọng mà không nhìn thấy một chút máu nào chảy ra ngoài cả. Loại mất máu này gọi là mất máu ẩn giấu: Chảy máu trong có thể xảy ra sau gãy một xương lớn như xương chậu, xương đùi hoặc sau chấn thương các tạng đặc như gan, lách.
Mặc dù máu không bị mất khỏi cơ thể như trong chảy máu ngoài nhưng máu bị mất khỏi hệ thống tuần hoàn nên cũng gây hậu quả hạ huyết áp.
Có những trường hợp chảy máu trong lượng máu mất rất ít nhưng lại gây những vấn đề trầm trọng như trong trường hợpchảy máu nội sọ hoặc màng tim vì lượng máu chảy ra tích tụ lại trong sọ não hoặc quanh tim gây nên áp lực chèn ép não hoặc tim.
Chảy máu trong ẩn giấu có thể trở thành chảy máu trong lộ ra(nhìn thấy) qua sự đi tiểu ra máu, đi ngoài phân đen, nôn hoặc ho ra máu hoặc sự hình thành khối máu tụ bầm tím ngay trên phần bị chấn thương.
6.1. Những nguyên nhân gây nên chảy máu trong.
6.1. 1. Chảy máu trong ẩn giấu.
- Gãy xương: Xương chậu, các xương dài, xương sọ
- Chấn thương các cơ quan: Gan, lách, phổi, thận, tim, não và các cơ quan khác.
6.1.2. Chảy máu trong lộ ra
- Vỡnền sọ: máu chảy ra qua lỗ tai, lỗ mũi.
- Chấn thương trực tiếp: mũi, miệng, họng.
- Loét tiêu hóa:
+ Nôn ra máu đen
+ Phân đen (máu biến đổi)
Chú ý: Máu đỏ tươi chảy ra từ trực tràng thường
- Chấn thương phổi hoặc đường thở: ho ra máu đỏ tươi có lẫn bọt
- Chấn thương thận hoặc bàng quang: đi tiểu ra nước tiểu đỏ máu
- Vỡxương chậu có tổn thương niệu đạo: đi tiểu ra máu đỏ tươi
- Chửa ngoài tử cung vỡ.
Bất kỳ một bệnh nhân nào trong tình trạng sốc do bị chấn thương đều phải được coi là có chảy máu trong cho đến khi được chứng minh.
6.2.1. Xử trí cấp cứu và chǎm sóc
- Đặt nạn nhân nằm ngửa đầu thấp và mặt nghiêng về một bên để cung cấp đủ máu cho não. Khuyên nạn nhân nằm yên.
- Nâng cao chân nạn nhân nếu điều kiện cho phép.
- Nới lỏng dây áo, dây lưng,cravat... cho nạn nhân.
- Đắp ấm cho nạn nhân, nếu có điều kiện thì đắp thêm cho nạn nhân một tấm chǎn nữa.
- Kiểm tra mạch, nhịp thở và mức độ đáp ứng (tỉnh táo) 10 phút/lần, ghi chép lại kết quả.
- Thǎm khám nạn nhân để phát hiện những chỗ thủng khác.
- Nếu nạn nhân trở nên bất tỉnh nhưng vẫn thở bình thường thì đặt nạn nhân nằm tư thế hồi phục, nếu ngừng thở phải tiến hành cấp cứu ngay.
- Theo dõi tính chất của các dịch xuất tiết, bài tiết khỏi cơ thể.
- Nhanh chóng chuyển nạn nhân tới các cơ sở y tế có điều kiện phẫu thuật.
Phải coi đây là một cấp cứu ưu tiên. Trong khi vận chuyển vẫn phải theo dõi sát nạn nhân và duy trì tư thế đúng.
Không cho nạn nhân ǎn uống bất cứ một thứ gì.


(theo Viện Thông tin Y học Trung ương)



---------------------------
CẦM MÁU

I/ Các hình thức chảy máu:

Máu giàu oxy nên cò màu đỏ tươi và dưới áp suất của tim bơm, máu phụt ra chổ vết thương cùng lúc với nhịp tim đập. Động mạch bị đứt có thể làm máu bắn ra cao khoảng cả mét (vài feet) và có thể nhanh chóng làm cạn máu vòng tuần hòan.

II/ Chảy máu tĩnh mạch:

Máu tĩnh mạch đã hết oxy thường có màu đỏ sậm. Nó chịu áp lực ít hơn động mạch nhưng vì tĩnh mạch có khả năng bị sưng phồng, máu có thể ứ lại, do đó khi tĩnh mạch lớn bị đứt, máu có thể phụt ra nhiều.

III/ Chảy máu mao mạch:

Lọai chảy máu này có đặc điểm là chảy chầm chậm ở tất cả các vết thương. Mặc dù chảy máu mao mạch lúc đầu có thể nhanh nhưng lượng máu mất nói chung là không đáng kể. Một cú va chạm nhẹ có thể làm bể các mao mạch dưới da gây chảy máu ở các mô (bầm tím).

IV/ Mối nguy hiểm khi bị chảy máu quá nhiều:

Gây sốc nạn nhân do mạch đập nhanh, cơ thể yếu đi, chóng mặt, buồn nôm, khát, thở gấp, giảm thiểu oxy cung cấp đến não làm cho nạn nhân bất an, cáu bẳn (nạn nhân cần nhiều oxy để thở). Nếu nặng do mất nhiều máu quá thì nạn nhân bất tỉnh, tim bóp rỗng và ngừng đập. Nên nới lỏng quần áo nạn nhân.

V/ Cách sơ cứu:

Những điều nên làm:



  • Cầm máu


  • Ngăn ngừa nạn nhân bị sốc


  • Giảm thiểu ngưy cơ viêm, nhiễm trùng


  • Gấp rút đưa nạn nhân đến bệnh viện

Các cách cầm máu: Có rất nhiều phương pháp cầm màu, xin liệt kê một vài phương pháp sơ cứu như sau:

- Phương pháp băng bó: băng ép, trong trường hợp cấp cứu mà xung quanh không có dụng cụ sơ cứu thì chúng ta có thể dùng Cà vạt, khăn tay, áo xé ra và băng chặt vết thường lại rồi đưa nạn nhân vào bệnh viện. Nếu bị thương ờ tay thì nên đưa tay nạn nhân qua khỏi đầu trong quá trình di chuyển nhằm hạn chế lượng máu chảy ra do giảm áp. Nếu vết thương ờ chân thì đặt nạn nhân ở tư thế nằm, đầu hướng thấp xuống, chân đưa lên cao hơn phía đầu nạn nhân rồi di chuyển nạn nhân đến bệnh viện càng nhanh càng tốt.

- Phương pháp đặt garo: áp dụng cho trường hợp cho những vùng chảy máu có thể buộc garo như tay, chân. Trong trường hợp cấp cứu mà không có dây garo thì chúng ta có thể dùng cà vạt, dây giày, dây nịch, xé áo cuộn thành dây dùng làm garo.

Lưu ý khi buộc garo: Garo buộc phía trên vết thương hướng về phía tim, ví dụ: nếu bàn tay bị chảy máu thì chúng ta buộc garo ở cổ tay và buộc cách vết thương khoảng 3 cm đến 5 cm. Trước khi buộc garo phải có tấm chèn lót xung quanh nơi buộc garo để tránh gây họai tử nơi buộc garo. Sau khi buộc garo chúng ta phải dùng mẩu giấy ghi lại thời gian bắt đầu buộc garo và theo dõi cứ 15 phút phải nới lỏng garo một lần cho đến khi đến trạm xá. Nếu không sẽ bị họai tử nơi vết thương.

Dùng mực đỏ ghi chữ G trên trán nạn nhân, hoặc dùng sợi vải màu đỏ thắt lên trước áo nạn nhân để khi vào bệnh viện hay trạm xá cấp cứu thì nhân viên y tế ưu tiên xử lý cho nạn nhân đang thắt garo và đây cũng là cách nhận biết nạn nhân đang được thắt garo trong ngành y tế.

- Phương pháp ấn chận động mạch: đây là phương pháp hơi khó, các bạn nên tham gia khóa học sơ cấp cứu do Hội Chữ Thập Đỏ ở các tỉnh thành tổ chức. Chúng ta cần biết vị trí động mạch chủ mà dùng tay ấn chận vào như khóa van nuớc vậy. Phương pháp này rất hiệu quả nếu các bạn thao tác đúng, khi bạn ấn vào đúng vị trí thì máu sẽ ngưng chảy ngay, còn buông ra là máu chảy lại.

- Phương pháp co gấp chi: cách có thể áp dụng cho các vết thương gần những nơi khớp có thể co gấp được: như gần đầu gối, cùi chỏ, khuỷu tay, bắp chuối chân..., các bạn chỉ cần co gấp lại khớp và giữ chặt lại là máu ngưng chảy.

VI/ Trường hợp nguy hiểm:

Nếu nạn nhân bị thủng bụng (lòi ruột) thì xử lý sao? Lúc đó chỉ cần dùng một cái chén (bát) sạch úp vào vị trí đó rồi dùng áo xé ra băng chặt lại đưa nạn nhân vào bệnh viện.

Trường hợp nạn nhân bị đứt lìa chi (đứt lìa tay, chân): Lúc này chúng ta cần phải buộc garo ngay phía trên chổ bị cụt theo phuơng pháp đặt garo nêu trên và nếu không có băng tam giác thì dùng khăn hay vải sạch, áo băng phủ nhẹ lên vết thương hở để tránh nhiễm trùng khi di chuyển nạn nhân. Phần chi bị đứt lìa cần phải bảo quản bằng cách dùng túi nylon sạch bộc kín lại, chống thấm nước vào, rồi ướp vào đá lạnh đưa cùng nạn nhân vào bệnh viện càng nhanh càng tốt để bác sĩ có cơ hội phẩu thuật kết nối chi cho nạn nhân.

Phòng cháy và thoát cháy an toàn

I/ Phòng cháy hơn chữa cháy:

Khi nào phát sinh ra lửu hay đám cháy, dưới đây là tam giác LỬA. Khi nào nó hội đủ 3 điều kiện với nhau thì phát sinh ra lửa cháy.




OXYGEN = oxy, không khí. Ví dụ: nơi thoáng khí, có gió hay môi trường có Oxy cao...

IGNITION = Nhiệt , sức nóng. Ví dụ: dây điện đang có nguồn điện, tàn thuốc là còn đang cháy, các vật phát ra tia lửa điện...

FUEL = vật gây (dể) cháy, chất cháy. Ví dụ: hàng hóa, vật tư hóa chất dể cháy, Gổ, giấy tờ, sách báo....

Nếu chúng ta loại bỏ được một trong 3 yếu tố trên thì không bao giờ xảy ra cháy, hỏa hoạn. Nên các bạn xem lại ở nhà mình, ở cơ quan hoặc trên tàu ghe có hội đủ 3 yếu tố trên hay không nhé.

II/ Chữa cháy an tòan:

Khi phát hiện đám cháy, hãy báo ngay cho mọi người biết bằng cách hô to trước khi dập tắt đám cháy. Xin đừng làm anh hùng cá nhân mà một mình lặng lẻ dập lửa vì một khi mà mình không thể dập tắt hay khống chế ngọn lửa được thì lúc đó đã quá muộn để báo cho mọi người biết (lúc đó có thể trở thành bê thui luôn).

Sử dụng các lọai bình chữa lửa thích hợp: bình bột, bình khí CO2 hay nước, cát... Nếu trường hợp bị cháy xăng dầu, dây điện mà dùng nước tạt vào là rất nguy hiểm. Trường hợp này nên dùng bình khí CO2 hay bình bột.

Nếu dùng bình khí CO2 thì các bạn đừng nắm tay ngay phía đầu miệng vòi phun vì một khi CO2 phun ra nó sẽ tạo ra một luồng khí lạnh đến -50 độ, nó sẽ làm tay bạn dính chặt vào ống vòi phun và bị phỏng lạnh tuột cả da tay.

Gọi cứu hỏa chuyên nghiệp để giúp đở.

III/ Thoát nạn an toàn:

Khi có cháy trong tòa nhà chúng ta nên rời khỏi vị trí ngay, cuối đầu thấp xuống và cố gắng đi theo hướng xuống dưới rồi thóat ra đường.

Không được chạy ngược lên lầu , lên cao vì lửa và nhiệt lúc nào cũng có khuynh hướng bốc lên cao.

Trong trường hợp khói qua thì nên càng cuối thấp người càng tốt, có thể bò ra ngòai. Xin đừng đứng thẳng người mà chạy như vậy rất nguy hiểm và dể ngạt thở vì khói.

Nếu không kịp tìm ra lối thoát thì nên cố gằng đứng gần cửa xổ , mở cửa xổ cho thoáng khí và cứu nạn.

Không được đi vào thang máy trong các tòa nhà cao tầng vì lúc cháy thì thang máy sẽ ngưng họat động và rất ngộp.

Không được nhảy vào hồ nước, thùng chứa nước cho mát trong khu vực đang cháy vì trong khu vực cháy rất nóng, nhiệt độ lên đến 5000 độ C nên nó sẽ tự bén lửa trong khu vực đó và tòan bộ không khí trong đó bị đốt cháy. Trong vòng vài phút là nước trong hồ hay trong bồn sẽ sôi lên ngay.

Sinh mạng con người là quan trọng nhất, nếu chúng ta đang ở trong tòa nhà cao tầng thì hãy cố gắng thóat và giúp các bạn mình thóat khỏi tòa nhà càng nhanh càng tốt. Một khi tòa nhà đã cháy mà vẫn kẹt trên đó sau 5 phút mà không thóat ra được thì cơ hội sống xót rất thấp.


Đối với từng căn hộ cụ thể, có “mâu thuẫn” khó xử lý là việc “kín cổng cao tường, khoá chắc chắn” để phòng chống trộm cắp, tội phạm... “gây khó” cho việc thoát nạn khi xảy ra sự cố cháy, nổ. Khóa cửa mà để chìa khoá ở ngay đó thì cũng gần như không khoá nhưng cất chìa khoá cẩn thận tới mức những người khác trong nhà không biết thì cũng rất bất tiện, nhất là khi sự cố xảy ra người ta thường bị rối trí. Do vậy, chìa khoá phải để ở nơi bọn tội phạm không thể lấy song mọi người trong nhà đều biết để nhanh chóng sử dụng được trong trường hợp khẩn cấp. Việc thiết kế, lắp đặt cửa ra vào theo hướng đẩy ra ngoài và cửa từng phòng là loại khoá tay nắm tròn bấm chốt không cần dùng chìa khoá mở bên trong, sẽ giúp cho việc thoát nạn được nhanh chóng hơn, kịp thời hơn.
Các gia đình cũng nên có sẵn đèn pin để sử dụng khi cần, vì mò mẫm trong đêm tối để tìm chìa khoá, lối ra... làm cho việc thoát nạn rất khó khăn, mất thời gian.

Và, nếu xảy ra cháy, nổ thì việc đầu tiên là thoát nạn, cứu người, không nên vì quá quan tâm đến tài sản mà để mất thời cơ thoát nạn, đặc biệt là đối với người lớn tuổi và phụ nữ, trẻ em.
Bên cạnh đó, nếu có điều kiện thì các căn hộ nên có sẵn thang để dùng vào việc thoát nạn cho người ở các tầng trên khi xảy ra cháy ở tầng bên dưới.



(Theo Đông và Bùi H. Ninh)

Montag, 17. November 2008

An toàn khi tắm biển, sông, hô`

Tắm biển, sông, hô` là một trong những thú vui không thể nào thiếu. Nhưng có những việc tuy đơn giản nhưng cũng nên lưu ý:

- Cùng đi với 1 - 2 người khác, càng đông càng an toàn và có thể hỗ trợ nhau.
- Đừng mang theo đồng hồ, đồ trang sức nhất là dây chuyền, đề phòng sóng làm tuột mất.

- Không bơi quá xa bờ 15m hoặc ở khu vực sâu quá 5m. Cách dễ dàng nhất là luôn để ý đến cờ báo giới hạn bơi mà hầu hết các vùng biển đều có.

- Không xuống tắm nếu nhiệt độ dưới 18 C. Xuống nước từ từ, không nên lao mình xuống ngay để tránh thay đổi nhiệt độ cơ thể đột ngột dẫn đến cảm lạnh.

- Không nên phơi nắng quá lâu trước khi xuống nước. Đừng để bụng quá đói hoặc quá no. Không nín thở quá lâu khi lặn.

Phải lên bờ ngay nếu có các triệu chứng

- Cơ thể ngứa ngáy, cảm thấy lạnh
- Thấy mệt mỏi khác thường, nhức trán hoặc sau gáy

- Bị chuột rút, rối loạn thị giác

- Có dấu hiệu bị chướng bụng, đau khuỷu tay và đầu gối.

( Theo SVN )



----------------------------------------------------------------------------------------------


Cấp cứu giúp nạn nhân






Ngòai 2 cách trên ra chúng ta còn có thể ném phao cho nạn nhân.

Sau khi đưa nạn nhân lên bờ thì có thể có 2 trường hợp xấu xảy ra:

  1. Nạn nhân bị ngưng thở, còn nhịp tim
  2. Nạn nhân bị ngưng tim và ngưng thở

Đối với 2 trường hợp này chúng ta cần sử dụng phương pháp ABC theo ảnh dưới đây:



A = Airway = Đường thở , B = Breathing = hít thở, C= Circulation = tuần hoàn

I/ Khi đã đưa nạn nhân lên bờ, đối với trường hợp ngưng thở nhưng vẫn còn nhịp tim thì chúng ta cần thức hiện các bước như sau:

  1. Kiểm tra nhịp tim nạn nhân qua động mạch chủ: xem còn mạch đập không.



2. Quan sát và kiểm tra hơi thở của nạn nhân: xem còn thở không.



Nếu nạn nhân ngưng thở mà vẫn còn nhịp tim thì sử dụng phương pháp hà hơi thở ngạt sau:

Bước 1: Khai thông đường thở

a. Kiểm tra di vật đường thở: bằng cách dùng một tay mở miệng giữ cằm nạn nhân và dùng ngón tay kia dò xem trong miệng nạn nhân có dị vật gì (răng giả, đất, bùn...) trong miệng hay đờm nhớt trong miệng không, nếu có thì lấy hết dị vật ra bằng cách nghiên đầu nạn nhân qua một bên để cho dị vật trôi ra ngoài.



b. Khai thông đường thở bằng cách đưa một tay xuống cổ nạn nhân rồi nâng nhẹ lên trên làm cho đầu nạn nhân ngửa lên, rồi dùng 1 tay giữ trán nạn nhân sao cho thực quản thành 1 đoạn thẳng.



Bước 2: Hô hấp nhân thạo cho nạn nhân (hà hơi thở ngạt) bằng cách hít thở thật sâu, dùng một tay bóp mũi nạn nhân, một tay đưa cằm nạn nhân hướng lên trên và dùng miệng thổi vào miệng nạn nhân, khi thổi hết hơi vào miệng nạn nhân thì chúng ta thấy lòng ngực nạn nhân sẽ căng phòng lên (nếu chúng ta chưa thấy lòng ngực nạn nhân căng lên thì việc thổi hơi chưa đạt hiệu quả, có thể là thực quản nạn nhân chưa được ở vị trí thẳng), sau đó buôn tay khỏi mủi nạn nhân để cho thở ra, các thao tác này cứ lập đi lập lại cho đến khi thấy nạn nhân có tiếng ho và nôm ra nước. Phải thật kiên trì và không bỏ cuộc.



Bước 3: Hồi sức, khi nạn nhân đã ho được và thở được thì đặt nạn nhân hồi sức ở tư thế sau:



Bước 4

Bước 4: Vẫn phải gọi cấp cứu đưa nạn nhân vào bệnh viện theo dõi, buớc này nên thực hiện ngay khi đưa được nạn nhân vào bờ.

II/ Đối với trường hợp nạn nhân bị ngưng tim và ngưng thở (chết lâm sàn):

Trường hợp này chưa chắc nạn nhân đã chết hẳn nếu thời gian nạn nhân bị chết đuối không quá lâu (trong vòng 6-8 phút), vẫn còn có cơ mây cứu sống nạn nhân nếu các bạn biết cách và bình tỉnh.

Khi nạn nhân đã bị chết đuối, bất động ngâm dưới nuớc tức là đã ngưng thở từ 1-3 phút thì vẫn cứu sống được bình thường.

Nếu đã ngưng thở từ 3 đến 4 phút thì vẫn có thể cứu sống được nhưng nạn nhân sẽ bị chết một phần tế bào não và có thể bị mất trí nhớ hay tưng tửng mà dân gian gọi là Té Giếng.

Nếu nạn nhân đã ngưng thở từ 4 đến 6 phút thì cơ hội cứu sống giảm dần, nếu cứu sống thì nạn nhân cũng bị mất trí, tâm thần.

Sau 6 phút thì nạn nhân có thể trở thành người thực vật hoặc tử vong.

Các bước sơ cấp cứu cho trường hợp nạn nhân bị ngưng tim , ngưng thở:

Bước 1 và buớc 2 thao tác như trường hợp I nêu trên

Bước 3: chúng ta phải kết hợp hà hơi thở ngạt (B- Hít thở) và xoa bóp tim ngòai lòng ngực (C - Tuần Hòan)

Xoa bóp tim ngòai lòng ngực làm sao?



Khi ấn tim nạn nhân phải giữ 2 cánh tay thẳng và dùng lực của sống lưng của mình ấn xuống và nâng lên chứ không phải dùng lực của khuỷu tay.

Nếu trong trường hợp chỉ có một người thực hiện sơ cấp cứu cho nạn nhân thì chúng ta thực hiện theo cách ấn 15 thổi 1, tức là ấn tim nạn nhân 15 lần rồi thổi hơi qua miệng nạn nhân 1 lần, thao tác thổi như ở trường hợp I. Và cứ lập đi lập lại cho đến khi nạn nhân ho và thở lại. Việc này phải kiên trì thao tác liên tục, không được gián đoạn và nó có thể kéo dài hàng tiếng đồng hồ.

Nếu trong trường hợp có 2 người thao tác sơ cấp cứu nạn nhân thì chúng ta thao tác theo cách ấn 5 lần thổi 1 lần và 1 người ấn, 1 người thổi.



Khi nạn nhân đã thở lại được chúng ta vẫn phải theo dõi và đặt nạn nhân vào vị trí hồi sức như trường hợp 1 nêu trên.

Nhớ rằng sau khi nạn nhân đã thở được thì vẫn phải đưa nạn nhân vào bệnh viên theo dõi nhịp tim và nhịp thở, cần bác sĩ chuyên môn điều trị.



---------------------------------------------------------


Làm sao tránh chuột rút khi bơi? 11/09/2008"Mỗi lần đá bóng xong, xuống biển bơi, em lại bị chuột rút. Em phải làm sao đây?" Văn Qùy (Hội An, Quảng Nam).
Trả lời:

Chuột rút là tình trạng co rút cơ do phản xạ (để nghỉ ngơi), thường xảy ra khi cơ phải làm việc quá độ, cộng thêm các yếu tố nguy cơ như mỏi, có chấn thương, trời lạnh quá, khởi động không kỹ…


Ảnh: Corbis.

Sau khi đã mệt mỏi do đá banh, bạn lại tiếp tục xuống biển bơi, nghĩa là bắt cơ bắp tiếp tục hoạt động quá sức nên tình trạng chuột rút rất dễ xảy ra, nhất là khi trời lạnh.

Để tránh chuột rút, bạn cần sắp xếp lại hoạt động thể thao cho hợp lý, vừa sức. Tăng cường các bài tập mạnh cơ, kéo giãn (đạp xe, đá tạ…) để tăng sức chịu đưng. Cần ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, nhiều vitamin.

BS. Trương Công Dũng

Cách xử trí với dị vật đường thở

Sự cố dị vật đường thở rất nguy hiểm, nhẹ thì bị ho sặc tím tái, viêm phổi, nặng sẽ tử vong. Nếu không được cấp cứu kịp thời và đúng mức, bệnh nhân có thể tử vong do ngưng thở.
Bất kỳ tuổi nào cũng có thể bị dị vật đường thở, song phổ biến nhất là từ 1 đến 3 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Dị vật có thể là thực vật như hột dưa, hột đậu phộng, hột mãng cầu..., hoặc có nguồn gốc động vật như xương cá, đốt sống cá, vỏ tép. Ngoài ra còn có dị vật kim loại như kim ghim vải, đinh hoặc thậm chí chất lỏng như sữa, cháo...
Các vị trí của dị vật:
- Dị vật to thường mắc ở thượng thanh môn, như hột chôm chôm.
- Dị vật nhỏ hơn có thể bị kẹt ở thanh môn, như xương cá.
- Dị vật có thể đi xuống dưới thanh môn, khí quản hay phế quản.
- Dị vật có thể nằm im trong khí quản hay phế quản như hột mãng cầu; di động lên xuống theo nhịp thở như hột dưa; ghim vào thành khí phế quản như lưỡi câu, kim...
Các hội chứng của người bị dị vật đường thở:
- Hội chứng xâm nhập: trẻ đang ăn hoặc chơi tự nhiên thì bị ho sặc, khó thở, tím tái cần nghĩ ngay đến dị vật lọt vào đường thở.
- Khó thở thanh quản: thở hước, thở rít, trẻ ráng sức hít vào, bứt rứt, vật vã do đường thở bị bít tắc.
- Nếu dị vật không gây các triệu chứng trên, hoặc có song thoáng qua, có thể bị bỏ qua khiến bệnh nhân sau đó bị viêm phổi tái phát.
- Khám phổi bằng ống nghe có thể phát hiện tiếng thở rít do đường thở bị hẹp hay một số triệu chứng của viêm phổi, khí thũng phổi, hoặc dấu cờ bay lật phật do dị vật di chuyển theo nhịp thở.
Cách xử trí:
- Nếu dị vật là chất lỏng: bệnh nhân khó thở do phản xạ co thắt thanh môn. Để cấp cứu, đặt trẻ nằm sấp trên lòng bàn tay hay trên đùi rồi vỗ mạnh vào lưng 2-3 cái. Nếu trẻ lớn hơn, để trẻ nằm ngửa rồi ấn tay vào thương vị, nhồi 2-3 cái để trẻ ho bắn ra và thở trở lại. Nếu trẻ vẫn chưa thở được, phải hà hơi thổi ngạt và xoa bóp tim ngoài lồng ngực nếu ngưng tim.
- Nếu dị vật cứng:
+ Trường hợp bệnh nhân không khó thở thì đưa ngay đến bệnh viện để kiểm tra, nếu có sẽ tiến hành soi gắp dị vật.
+ Khi người bệnh khó thở tím tái, cách xử trí giống như khi bị sặc chất lỏng. Nếu bệnh nhân lớn có thể làm nghiệm pháp Heimlic: để bệnh nhân đứng, người cúi ra trước, người cấp cứu đứng phía sau, hai tay bắt vào nhau thành một nắm đấm để vào vùng thượng vị của bệnh nhân, sau đó giật mạnh từ trước ra sau và từ dưới lên trên để làm tăng áp lực trong lồng ngực nhằm có thể tống dị vật ra. Nếu không kết quả phải tìm cách đưa bệnh nhân đến ngay bệnh viện để soi gắp dị vật.
+ Nếu bệnh nhân lờ đờ, vật vã, phải thọc tay móc ngay dị vật ra vì thường đây là dị vật to gây bít tắc thanh môn. Còn với vật nhỏ hơn, có thể thổi miệng đẩy luôn dị vật xuống sâu để bệnh nhân có thể thở được, sau đó chuyển đến bệnh viện. Sau khi soi, bệnh nhân cần dùng thuốc kháng viêm và kháng sinh trong 7-10 ngày.
( Theo Bác sĩ Đặng Hoàng Sơn, Sức Khỏe & Đời Sống)