Samstag, 22. November 2008

các phương pháp cầm máu và làm garo

các phương pháp cầm máu và làm garo
1. ĐạI CU'ƠNG.
Máu lưu thông trong cơ thể cung cấp cho các tổ chức tế bào oxy và chất dinh dưỡng, do đó để đảm bảo cho sự cung cấp này thì phải duy trì sự lưu thông tuần hoàn của máu trong cơ thể. Huyết áp và áp lực dể duy trì sự lưu thông tuần hoàn của máu.
Mất nhiều máu làm giảm huyết áp. Nếu chảy máu ở mức độ ít trầm trọng thì cơ thể sẽ bù, lại bằng cách tǎng nhịp tim và hạn chế máu tới tổ chức dưới da và ruột, để tǎng cường lượng máu tới các cơ quan sống còn của cơ thể như não. Nếu như huyết áp thấp bất thường vì bất cứ nguyên nhân gì thì chỉ sau một thời gian, thậm chí chỉ sau 30 phút thì những cơ quan quan trọng của cơ thể như não, tim và thận sẽ bị tổn thương nghiêm trọng. Thận là cơ quan đặc biệt nhạy cảm với sự giảm lưu lượng tuần hoàn và suy thận có thể xảy ra ngay sau một giai đoạn sốc ngắn.
Cơ thể có những cơ chế bảo vệ để chống lại sự chảy máu. Khi mạch máu bị cắt đứt thì đầu mạch máu bị đứt co lại để giảm sự chảy máu.
Mạch máu co lại làm giảm lưu lượng máu tới các đầu mạch bị tổn thương tạo điều kiện để các cục máu đông được hình thành, do đó chống lại sự mất máu thêm.
2. CáC LOạI CHảY MáU.
2.1. Chảy máu động mạch:
Máu động mạch (trừ máu động mạch phổi) có màu đỏ tươi. Khi bị đứt động mạch, máu chảy ra thành tia và phun mạnh lên khi mạch đập.
2.2. Chảy máu tĩnh mạch:
Máu tĩnh mạch có màu đỏ sẫm (trừ máu tĩnh mạch phổi). Khi bị đứt tĩnh mạch máu chỉ đùn ra hoặc phun ra từ từ.
2.3. Chảy máu mao mạch:
Mao mạch là những mạch máu nhỏ nối giữa động mạch và tĩnh mạch. Máu rỉ ra từ vết thương trong những trường hợp vết thương là vết cắt hoặc giập nát nhỏ. Trong những vết thương lớn hơn có tổn thương cả tĩnh mạch hoặc động mạch hoặc cả động mạch tĩnh mạch thì các mao mạch chảy ra bị máu tĩnh mạch và động mạch át đi.
3. Sự CHảY MáU Có THÊ Được PHÂN THàNH 2 LOạI
3.1. Chảy máu ngoài: Máu chảy ra từ vết thương trên cơ thể (nhìn thấy được)
3.2. Chảy máu trong:
Máu chảy ra từ vết thương bên trong cơthể (không nhìn thấy được). Mất máu trong cơ thể là: mất máu trong ẩn dấu (máu đọng lại bên trong cơ thể không nhìn thấy) và mất máu trong lộ ra (nhìn thấy). Khi đã nhận định, đánh giá tình trạng chảy máu xong thì phải có những ưu tiên để cầm máu và chǎm sóc.
Trong những trường hợp chảy máu nặng thì cần sự hồi sinh cho nạn nhân. Có những trường hợp không thể cầm máu hoàn toàn được nhưng tiến hành cầm máu và hồi sinh ngay cho nạn nhân nên đã duy trì được sự sống của nạn nhân cho đến khi chuyển tới cơ sở y tế có khả nǎng giải quyết và nạn nhân đã được cứu sống.
4. TRIệU CHứNG Và DấU HIệU CủA MấT NHIềU MáU.
- Bằng chứng của sự mất máu: có thể có hoặc không.
- Da xanh nhợt, lạnh, vã mồ hôi.
- Hoảng hốt, giãy giụa, kích thích, ý thức lú lẫn, lộn xộn, thay đổi mức độ tỉnh táo
- Nhịp thở nhanh nông (đói không khí)
- Mạch nhanh và yếu
- Tiến triển dần tới tình trạng "sốc"
5. CáC Kỹ THUậT CầM MáU.
5.1. Cầm máu mao mạch, tĩnh mạch.
Nhanh chóng ép trực tiếp lên vết thương hoặc dùng tay ép vết thương lại. Nếu có điều kiện thì đặt lên vết thương một miếng gạc hoặc miếng vải sạch trước khi ép trực tiếp lên vết thương.
- Đặt nạn nhân nằm ở tư thế thoải mái thuận tiện, nâng cao vùng bị tổn thương vì sự nâng cao làm giảm áp lực máu ở vùng đó nên làm giảm chảy máu.
- Dùng bǎng cuộn hoặc dây vải bǎng ép miếng gạc hoặc miếng vải vào vết thương. Không bǎng quá chặt như hình thức ga rô.
- Nếu máu thấm qua bông thì dùng bǎng quấn thêm lên bǎng cũ. Đừng tháo bỏ bǎng cũ khi thấm máu.
- Giữ yên tĩnh cho nạn nhân, động viên an ủi nếu nạn nhân tỉnh táo.
- Chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế nếu thấy cần thiết.
- Trong khi chờ đợi hoặc trên đường vận chuyển phải luôn kiểm tra theo dõi tình trạng hô hấp, tuần hoàn của nạn nhân. Giữ ấm cho nạn nhân. Nâng cao chân và tay bị tổn thương. Nếu nạn nhân tỉnh táo thì cho uống nhiều nước.
* Một số điểm chú ý khi xử trí vết thương chảy máu
- Nếu các vết thương chảy máu có dị vật như mảnh gỗ, kim loại hoặc bất kỳ một vật gì đâm vào mà vẫn còn cắm ởvết thương thì không bao giờ dược rút những dị vật đó ra khỏi vết thương. Trong trường hợp này một vòng đệm (vành khǎn) làm bằng một miếng vải vuông hoặc một khǎn tam giác quấn lại thành vòng đệm xung quanh dị vật sau đó dùng bǎng ép lại rồi chuyển nạn nhân tới bệnh viện.
- Nếu bǎng ép áp lực trực tiếp lên vết thương mà không cầm được máu, máu vẫn chảy ra nhiều thì phải dùng các biện pháp khác để cầm máu.
- Phương pháp ấn vào động mạch chi phối vùng có vết thương.
- Điểm ấn vào động mạch là điểm mà ở chỗ đó động mạch đi trên một nền cứng ví dụ như xương. Khi ấn vào điểm này động mạch sẽ bị ép vào xương do đó cắt đứt luồng máu cung cấp cho vùng ở phía bên kia của điểm ấn nên sẽ kiềm chế được sự chảy máu ở vết thương tạo điều kiện cho vết thương tự cầm máu. Ví dụ: Khi ấn động mạch đùi thì toàn bộ chi dưới không được cung cấp máu. Phương pháp này chỉ được áp dụng khi đã bǎng ép trực tiếp lên vết thương và nâng cao phần bị thương mà vẫn không cầm được máu. Có6 điểm ấn chính được sử dụng để làm ngừng chảy máu trên những vùng khác nhau của cơ thể.
+ Động mạch cảnh: Động mạch này nằm ở bên cạnh khí quản. Khi ấn phải ấn về phía sau lên trên cột sống vì nếu ấn sang bên thì sẽ ấn vào khí quản làm tắc đường thở. n động mạch cảnh để khống chế sự chảy máu ở vùng cổ và đầu.
+ Động mạch thái dương: Điểm ấn của động mạch này ởngay phía trước của tai.
+ Động mạch mặt: Điểm ấn của động mạch này ở cách góc hàm khoảng 2,5cm về phía trước. Khi ấn phải ấn vào mặt ngoài xương hàm dưới....
+ Động mạch dưới đòn: Điểm ấn ở ngay phía sau đầu trong xương đòn.
Khi ấn phải ấn xuống dưới về phía xương sườn thứ ri.hất.
+ Động mạch cánh tay: Điểm ấn ở mặt trong của tay ở đoạn giữa của khuỷu tay và vai. Khi ấn dùng tay bóp vào trong xương cánh tay.
+ Động mạch đùi: Điểm ấn ở đoạn giữa của nếp bẹn. Khi ấn thường dùng 2 đầu ngón tay cái ấn xuống phía xương chậu hoặc dùng cả bàn tay để ấn thẳng xuống vùng nếp bẹn.
5.2. Cầm máu động mạch.
5.2.1. Đặt ga rô
a) Ga rô chính quy.
- Dùng một bǎng cao su mỏng mềm đàn hồi tốt, to bản, dài (Esmareh)
+ Chi trên: Rộng 3 - 5cm, dài: 1,2 - 2m
+ Chi dưới: Rộng 5 - 8cm, dài 2 -3m
* Nguyên tắc đặt ga rô.
- Chặn động mạch trên đường đi của động mạch dẫn tới vết thương.
- Đặt ga rô cách vết thương 2 - 3cm
- Không đặt ga rô trực tiếp lên da thịt của bệnh nhân, phải có vòng đệm
- Xử trí vết thương phần mềm.
- Tổng số giờ đặt ga rô không quá 6 giờ, 1 giờ nới ga rô một lần, mỗi lần nới không quá 1 phút.
- Phải có phiếu ga rô đặt ởnơi dễ nhìn thấy nhất. Viết chữ phiếu ga rô màu đỏ, khung của phiếu ga rô màu đỏ trong đó có ghi nội dung của phiếu ga rô. Vận chuyển ưu tiên số 1.
* Kỹ thuật tiến hành.
Chuẩn bị dụng cụ:
+ Ga rô Esmarch.
+ Vòng bǎng lót
+ Bông gạc vô khuẩn
+ Bǎng cuộn, phiếu ga rô
- Chặn động mạch để cầm máu ngay trên đường đi của động mạch dẫn
đến vết thương.
- Đặt ga rô cách vết thương 2-3cm
+ Vòng 1: Vừa phải
+ Vòng 2: Chặt hơn
+ Vòng 3: Chặt nhất (Quyết định sự cầm máu)
+ Vòng 4: Nới rộng để nhét cuộn ga rô còn lại vào
- Xử trí vết thương: Sát khuẩn xung quanh, đặt gạc bǎng lại, viết phiếu ga rô
- Nới ga rô: Luồn 2 ngón tay vào vòng cuối cùng nâng lên, rút cuộn ga rô vừa cuộn lại vừa nới hết vòng thứ 3 từ từ.
- Quan sát vùng dưới vết thương thấy hồng, ấm lại thì cuốn lại vòng thứ 3 chặt, vòng thứ 4 nới lỏng để nhét cuộn ga rô còn lại.
b) Ga rô tùy ứng.
+ Khǎn mùi xoa 2-3 chiếc
+ Bút chì, thước kẻ, đũa, dây buộc
* Tiến hành
- Chặn động mạch
+ Quấn một khǎn lót trên vết thương
+ Một khǎn gấp chéo nhỏ lại buộc lỏng trên khǎn thứ nhất.
+ Luồn một que vừa nâng vừa xoắn khǎn thứ hai đến khi máu ngừng chảy.
+ Cố định que tránh va chạm vào vết thương
- Xử trí và bǎng vết thương chuyển nhanh đến tuyến trên.
5.2.2. Bǎng ép động mạch cổ.
a) Dụng cụ
- 1 nẹp dài từ quá đầu đến quá khuỷu tay
- Bǎng cuộn: 2-3 cuộn
- Gạc vô khuẩn
b) Tiến hành
- Chặn động mạch cổ
- Xử trí vết thương
- Đặt một vật (bǎng, gạc cuộn chặt lại) chặn lên động mạch.
- Cố định nẹp vào đầu, cánh tay và giữ vật chặn tại chỗ
- Treo cánh tay vuông góc với cẳng tay bằng khǎn chéo.
- Chuyển ưu tiên cấp cứu số 1 đến khoa ngoại.
6. Xử TRí CấP CứU Và CHǎM SóC CấP CứU CHảY MáU TRONG.
Chảy máu trong cơ thể gây mất máu rất trầm trọng mà không nhìn thấy một chút máu nào chảy ra ngoài cả. Loại mất máu này gọi là mất máu ẩn giấu: Chảy máu trong có thể xảy ra sau gãy một xương lớn như xương chậu, xương đùi hoặc sau chấn thương các tạng đặc như gan, lách.
Mặc dù máu không bị mất khỏi cơ thể như trong chảy máu ngoài nhưng máu bị mất khỏi hệ thống tuần hoàn nên cũng gây hậu quả hạ huyết áp.
Có những trường hợp chảy máu trong lượng máu mất rất ít nhưng lại gây những vấn đề trầm trọng như trong trường hợpchảy máu nội sọ hoặc màng tim vì lượng máu chảy ra tích tụ lại trong sọ não hoặc quanh tim gây nên áp lực chèn ép não hoặc tim.
Chảy máu trong ẩn giấu có thể trở thành chảy máu trong lộ ra(nhìn thấy) qua sự đi tiểu ra máu, đi ngoài phân đen, nôn hoặc ho ra máu hoặc sự hình thành khối máu tụ bầm tím ngay trên phần bị chấn thương.
6.1. Những nguyên nhân gây nên chảy máu trong.
6.1. 1. Chảy máu trong ẩn giấu.
- Gãy xương: Xương chậu, các xương dài, xương sọ
- Chấn thương các cơ quan: Gan, lách, phổi, thận, tim, não và các cơ quan khác.
6.1.2. Chảy máu trong lộ ra
- Vỡnền sọ: máu chảy ra qua lỗ tai, lỗ mũi.
- Chấn thương trực tiếp: mũi, miệng, họng.
- Loét tiêu hóa:
+ Nôn ra máu đen
+ Phân đen (máu biến đổi)
Chú ý: Máu đỏ tươi chảy ra từ trực tràng thường
- Chấn thương phổi hoặc đường thở: ho ra máu đỏ tươi có lẫn bọt
- Chấn thương thận hoặc bàng quang: đi tiểu ra nước tiểu đỏ máu
- Vỡxương chậu có tổn thương niệu đạo: đi tiểu ra máu đỏ tươi
- Chửa ngoài tử cung vỡ.
Bất kỳ một bệnh nhân nào trong tình trạng sốc do bị chấn thương đều phải được coi là có chảy máu trong cho đến khi được chứng minh.
6.2.1. Xử trí cấp cứu và chǎm sóc
- Đặt nạn nhân nằm ngửa đầu thấp và mặt nghiêng về một bên để cung cấp đủ máu cho não. Khuyên nạn nhân nằm yên.
- Nâng cao chân nạn nhân nếu điều kiện cho phép.
- Nới lỏng dây áo, dây lưng,cravat... cho nạn nhân.
- Đắp ấm cho nạn nhân, nếu có điều kiện thì đắp thêm cho nạn nhân một tấm chǎn nữa.
- Kiểm tra mạch, nhịp thở và mức độ đáp ứng (tỉnh táo) 10 phút/lần, ghi chép lại kết quả.
- Thǎm khám nạn nhân để phát hiện những chỗ thủng khác.
- Nếu nạn nhân trở nên bất tỉnh nhưng vẫn thở bình thường thì đặt nạn nhân nằm tư thế hồi phục, nếu ngừng thở phải tiến hành cấp cứu ngay.
- Theo dõi tính chất của các dịch xuất tiết, bài tiết khỏi cơ thể.
- Nhanh chóng chuyển nạn nhân tới các cơ sở y tế có điều kiện phẫu thuật.
Phải coi đây là một cấp cứu ưu tiên. Trong khi vận chuyển vẫn phải theo dõi sát nạn nhân và duy trì tư thế đúng.
Không cho nạn nhân ǎn uống bất cứ một thứ gì.


(theo Viện Thông tin Y học Trung ương)



---------------------------
CẦM MÁU

I/ Các hình thức chảy máu:

Máu giàu oxy nên cò màu đỏ tươi và dưới áp suất của tim bơm, máu phụt ra chổ vết thương cùng lúc với nhịp tim đập. Động mạch bị đứt có thể làm máu bắn ra cao khoảng cả mét (vài feet) và có thể nhanh chóng làm cạn máu vòng tuần hòan.

II/ Chảy máu tĩnh mạch:

Máu tĩnh mạch đã hết oxy thường có màu đỏ sậm. Nó chịu áp lực ít hơn động mạch nhưng vì tĩnh mạch có khả năng bị sưng phồng, máu có thể ứ lại, do đó khi tĩnh mạch lớn bị đứt, máu có thể phụt ra nhiều.

III/ Chảy máu mao mạch:

Lọai chảy máu này có đặc điểm là chảy chầm chậm ở tất cả các vết thương. Mặc dù chảy máu mao mạch lúc đầu có thể nhanh nhưng lượng máu mất nói chung là không đáng kể. Một cú va chạm nhẹ có thể làm bể các mao mạch dưới da gây chảy máu ở các mô (bầm tím).

IV/ Mối nguy hiểm khi bị chảy máu quá nhiều:

Gây sốc nạn nhân do mạch đập nhanh, cơ thể yếu đi, chóng mặt, buồn nôm, khát, thở gấp, giảm thiểu oxy cung cấp đến não làm cho nạn nhân bất an, cáu bẳn (nạn nhân cần nhiều oxy để thở). Nếu nặng do mất nhiều máu quá thì nạn nhân bất tỉnh, tim bóp rỗng và ngừng đập. Nên nới lỏng quần áo nạn nhân.

V/ Cách sơ cứu:

Những điều nên làm:



  • Cầm máu


  • Ngăn ngừa nạn nhân bị sốc


  • Giảm thiểu ngưy cơ viêm, nhiễm trùng


  • Gấp rút đưa nạn nhân đến bệnh viện

Các cách cầm máu: Có rất nhiều phương pháp cầm màu, xin liệt kê một vài phương pháp sơ cứu như sau:

- Phương pháp băng bó: băng ép, trong trường hợp cấp cứu mà xung quanh không có dụng cụ sơ cứu thì chúng ta có thể dùng Cà vạt, khăn tay, áo xé ra và băng chặt vết thường lại rồi đưa nạn nhân vào bệnh viện. Nếu bị thương ờ tay thì nên đưa tay nạn nhân qua khỏi đầu trong quá trình di chuyển nhằm hạn chế lượng máu chảy ra do giảm áp. Nếu vết thương ờ chân thì đặt nạn nhân ở tư thế nằm, đầu hướng thấp xuống, chân đưa lên cao hơn phía đầu nạn nhân rồi di chuyển nạn nhân đến bệnh viện càng nhanh càng tốt.

- Phương pháp đặt garo: áp dụng cho trường hợp cho những vùng chảy máu có thể buộc garo như tay, chân. Trong trường hợp cấp cứu mà không có dây garo thì chúng ta có thể dùng cà vạt, dây giày, dây nịch, xé áo cuộn thành dây dùng làm garo.

Lưu ý khi buộc garo: Garo buộc phía trên vết thương hướng về phía tim, ví dụ: nếu bàn tay bị chảy máu thì chúng ta buộc garo ở cổ tay và buộc cách vết thương khoảng 3 cm đến 5 cm. Trước khi buộc garo phải có tấm chèn lót xung quanh nơi buộc garo để tránh gây họai tử nơi buộc garo. Sau khi buộc garo chúng ta phải dùng mẩu giấy ghi lại thời gian bắt đầu buộc garo và theo dõi cứ 15 phút phải nới lỏng garo một lần cho đến khi đến trạm xá. Nếu không sẽ bị họai tử nơi vết thương.

Dùng mực đỏ ghi chữ G trên trán nạn nhân, hoặc dùng sợi vải màu đỏ thắt lên trước áo nạn nhân để khi vào bệnh viện hay trạm xá cấp cứu thì nhân viên y tế ưu tiên xử lý cho nạn nhân đang thắt garo và đây cũng là cách nhận biết nạn nhân đang được thắt garo trong ngành y tế.

- Phương pháp ấn chận động mạch: đây là phương pháp hơi khó, các bạn nên tham gia khóa học sơ cấp cứu do Hội Chữ Thập Đỏ ở các tỉnh thành tổ chức. Chúng ta cần biết vị trí động mạch chủ mà dùng tay ấn chận vào như khóa van nuớc vậy. Phương pháp này rất hiệu quả nếu các bạn thao tác đúng, khi bạn ấn vào đúng vị trí thì máu sẽ ngưng chảy ngay, còn buông ra là máu chảy lại.

- Phương pháp co gấp chi: cách có thể áp dụng cho các vết thương gần những nơi khớp có thể co gấp được: như gần đầu gối, cùi chỏ, khuỷu tay, bắp chuối chân..., các bạn chỉ cần co gấp lại khớp và giữ chặt lại là máu ngưng chảy.

VI/ Trường hợp nguy hiểm:

Nếu nạn nhân bị thủng bụng (lòi ruột) thì xử lý sao? Lúc đó chỉ cần dùng một cái chén (bát) sạch úp vào vị trí đó rồi dùng áo xé ra băng chặt lại đưa nạn nhân vào bệnh viện.

Trường hợp nạn nhân bị đứt lìa chi (đứt lìa tay, chân): Lúc này chúng ta cần phải buộc garo ngay phía trên chổ bị cụt theo phuơng pháp đặt garo nêu trên và nếu không có băng tam giác thì dùng khăn hay vải sạch, áo băng phủ nhẹ lên vết thương hở để tránh nhiễm trùng khi di chuyển nạn nhân. Phần chi bị đứt lìa cần phải bảo quản bằng cách dùng túi nylon sạch bộc kín lại, chống thấm nước vào, rồi ướp vào đá lạnh đưa cùng nạn nhân vào bệnh viện càng nhanh càng tốt để bác sĩ có cơ hội phẩu thuật kết nối chi cho nạn nhân.